"Giáo dục của Việt Nam đang một mình một kiểu"

Theo nhà giáo Dương Văn Quảng, ở Việt Nam, chúng ta tranh luận quá nhiều về triết lý giáo dục và ít bàn luận xem nên đào tạo như thế nào cho “trúng." Điều cần thiết lúc này là phải gắn đào tạo của Việt Nam với đào tạo của nhiều nước trên thế giới, không nên một mình “một kiểu không giống ai.”

Nhà giáo Dương Văn Quảng cũng đề cập đến việc cần sự thay đổi về quan niệm bằng cấp. Tiêu chuẩn bổ nhiệm cán bộ dựa vào bằng cấp đã khiến người ta cần cái bằng bằng mọi giá trong khi cái mà các cán bộ cần là năng lực quản lý hơn là cái bằng chuyên môn.

Nhân dịp ngày nhà giáo Việt Nam (20/11), phóng viên TTXVN tại Pháp đã đến chúcmừng và có buổi trò chuyện với nhà giáo ưu tú Dương Văn Quảng, hiện là Đại sứ,Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức Liên hợp quốc về vănhóa, khoa học và giáo dục (UNESCO), tại Paris, Pháp.

Ông là một trong ba phó giáo sư đầu tiên của ngành ngoại giao được phonghọc hàm năm 2003 và trước khi đảm nhận chức vụ Đại sứ ông là Giám đốc Học việnNgoại giao.

Tiếp chúng tôi trong văn phòng làm việc của ông tại số 2 phố Le Verrier,trung tâm thủ đô Paris, ông bày tỏ những trăn trở và băn khoăn của mình về việclàm sao đó để khắc phục những tồn tại để tiến hành đổi mới đào tạo giáo dục, vànhất là đổi mới phương pháp giảng dạy để phát triển sự nghiệp giáo dục của ViệtNam trong quá trình hội nhập, cũng như việc tăng cường gắn giáo dục của Việt Namvới giáo dục của thế giới.

Giáo dục Việt Nam đừng một mình một kiểu


Đánh giá về nền giáo dục và đào tạo hiện nay của Việt Nam, ông Dương VănQuảng nhấn mạnh hiện nay mục đích và phương thức giáo dục đào tạo của Việt Namđã có nhiều thay đổi và ngày càng phát triển.

Tuy nhiên, cái khó nhất hiện nay đối với Việt Nam là sự nghiệp giáo dục vàđào tạo chưa theo kịp với sự chuyển biến, thay đổi về tư duy, nội dung và phươngthức đào tạo của trong nước cũng như trên thế giới.

Trước đây, khi đất nước còn quá nghèo, người dân đi học vì bằng cấp vàbằng bất cứ giá nào họ cũng phải thi đỗ vào một trường đại học. Còn ngày nay,trên thực tế, học là để ra làm việc, nên học không chỉ để có kiến thức chung màcòn cần phải có các kỹ năng nghề nghiệp để sau này có thể làm việc được ở nhiềungành nghề khác nhau.

Cho nên, đào tạo ở đa số các trường đại học của Việt Nam còn quá thiên vềlý thuyết kinh điển và chưa chú ý nhiều đến đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp.Thêm vào đó là nhận thức của các nhà quản lý về mối quan hệ giữa cơ quan tuyểndụng lao động-người được tuyển dụng-cơ sở đào tạo chưa thật sự thích hợp, mặcdù đã có những chuyển biến được ghi nhận.

Ở một số nước mới phát triển như Hàn Quốc, Singapore, chương trình nộidung đào tạo, cũng như phương thức và mục đích đào tạo do người được đào tạo vàngười tuyển dụng lao động quyết định hơn là các cơ sở đào tạo. Hay nói đúng hơn,các cơ sở đào tạo căn cứ vào nhu cầu người học và người sử dụng lao động để xâydựng và điều chỉnh chương trình và phương thức đào tạo.

Ở Việt Nam, chúng ta tranh luận quá nhiều về triết lý giáo dục và ít bànluận xem nên đào tạo như thế nào cho “trúng.” Điều cần thiết lúc này là phải gắnđào tạo của Việt Nam với đào tạo của nhiều nước trên thế giới, không nên mộtmình “một kiểu không giống ai.”

Chẳng hạn, theo các chuyên gia làm việc cho UNESCO, Việt Nam có thể xemxét sử dụng những sách giáo khoa có nội dung đào tạo tốt, nhất là sách về đàotạo nghề, về khoa học tự nhiên của các nước trên thế giới, không cần biên soạnmọi loại sách giáo khoa.

Quan niệm bổ nhiệm dựa quá nhiều vào bằng cấp


Một vấn đề nữa được nhà giáo Dương Văn Quảng đề cập đến là quan niệm vềbằng cấp. Theo ông, ở Việt Nam, bổ nhiệm và đề bạt, tăng lương và nâng ngạch đều dựa quánhiều vào bằng cấp. Điều này dẫn đến một thực tế là nhiều cán bộ quản lý đặt“quyết tâm” làm nghiên cứu sinh bằng mọi cách; nhân viên văn thư, hành chính,lái xe, bảo vệ đăng ký học tại chức bằng mọi giá để được chuyển lên ngạch chuyênviên và còn có hy vọng được đề bạt làm quản lý.

Cần phải hiểu đúng là, bằng thạc sỹ và tiến sỹ được cấp ra nhằm công nhận khả năng nghiên cứukhoa học của người được cấp bằng chứ không phải về khả năng quản lý, hay thâmniên công tác. Các nhà quản lý không nhất thiết phải có bằng thạc sỹ hay tiếnsỹ, mà nên có một vài bằng cử nhân về chuyên môn và về quản lý …

Quan hệ thầy-trò vừa thừa vừa thiếu

Sau nhiều năm tham gia giảng dạy và làm việc, nhà giáo Quảng  cho rằng trong quan hệthầy-trò, nếu nói theo lối phong kiến, thì “trò” là con và “thầy” là cái gì đó ởrất cao. Nên có thể nói, mối quan hệ này là vừa thừa lại vừa thiếu.

“Thừa” vì khoảng cách thầy-trò là quá rộng, nên để khoảng cách này hẹp lạivà quan niện thầy-trò là quan niện giữa “người đào tạo và người được đào tạo” vàngườì thầy là người hướng dẫn vào đời (ở tiểu học và trung học), là người cungcấp kiến thức, hướng nghiệp (ở bậc đại học). Còn thiếu, là thiếu tính dân chủtrong đào tạo, thiếu là thiếu sự kính trọng thầy ở một vài nơi. Thiếu nữa làthiếu những chuẩn mực do ảnh hưởng của những tác động tiêu cực của một vài ngànhnghề khác ảnh hướng tới ngành giáo dục như “lách luật” trong kinh tế dẫn đến“lách” để có điểm (do quá nhiều môn học).

Theo nhà giáo Dương Văn Quảng, cần tránh việc thầy có có quá nhiều quyềnđể có thể dẫn đến cơ chế “xin-cho” giữa thầy và trò. Cho nên cần đổi mới quy chếthi cử, người thầy tránh ra các đầu bài mang tính “học thuộc lòng” mà nên ra cácđầu đề thi mang tính tổng hợp, phân tích hoặc nhận định một vấn đề nào đó để nếunhư học sinh có mang tài liệu vào phòng thì cũng không sử dụng được.

Học sinh bắt buộc phải phát huy khả năng tư duy và sáng tạo - khơi dậy sựsuy nghĩ đánh giá và “phần tôi” của sinh viên trong quá trình làm bài, tạo nênnhững phong cách riêng của bài làm.

Đặc biệt, theo nhà giáo Dương Văn Quảng, điều quan trọng là phải khơi dậyý thức và lòng đam mê đọc, khả năng tự nghiên cứu và sự tự giác học cuả mỗi sinhviên, tránh những sự đối phó trong học tập và trong giáo dục đào tạo. Cần chú ýhơn đến mối quan hệ giữa phụ huynh - thầy giáo - học sinh. Cần phải có sự phốihợp hài hòa giữa gia đình, nhà trường và bản thân cá nhân học sinh trong quátrình giáo dục đào tạo. Học sinh có quyền tự lựa chọn các môn học, bố mẹ tránhép buộc con cái phải đi theo ngành học này hay ngành học kia, nhưng cũng tránhđể con cái quá tự do…

Giáo dục Ngoại giao không nên thuần túy lý thuyết

Riêng đối với giáo dục trong ngành ngoại giao từ năm 1975-2010, Phó giáosư Dương Văn Quảng - người đã có hơn hai ba mươi năm trong nghề, đã tham giagiảng dạy các môn ngoại ngữ, biên, phiên dịch, chính sách đối ngoại đến các kỹnăng ngoại giao, hướng dẫn thạc sỹ, tiến sỹ - cho biết khác với giảng viên củacác trường đại học khác, giảng viên trường đại học Ngoại giao - Học viện Quan hệquốc tế - và nay là Học viện ngoại giao, luôn gắn với nghề nghiệp ngoại giao,gắn đào tạo lý thuyết với thực tiễn ngành.

Nhưng theo ông, trong tình hình mới, để tránh biến động trong trong côngtác đào tạo tại Học viện Ngoại giao, cần xây dựng một đội ngũ giảng viên cơ hữuổn định có khả năng đảm đương 60-70% chương trình đào tạo; giảng viên kiêm nhiệmvà cán bộ ngoại giao thực thụ đảm nhận phần lại. Làm được như vậy sẽ khắc phụcđược hai yếu điểm trong đào tạo cán bộ đối ngoại như đào tạo chay, thuần túy lýthuyết, đội ngũ giảng viên biến động và không có bằng cấp cao (thạc sỹ , tiếnsỹ).

Trả lời câu hỏi “với cương vị là nhà ngoạigiao - Đại sứ, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO tại Pháp,ông sẽ làm gì để đóng góp nhiều hơn nữa cho việc phát triển 'sự nghiệp trồngngười' của Việt Nam," nhà giáo ưu tú Dương Văn Quảng đã nhấn mạnh mối quan hệtốt đẹp từ nhiều năm nay giữa Việt Nam và UNESCO thể hiện qua việc UNESCO đã ủnghộ và công nhận nhiều di tích của Việt Nam là di sản văn hóa thế giới vật thể,phi vật thể, hoặc là di sản thiên nhiên của nhân loại. Ông bày tỏ mong muốn đẩymạnh hơn nữa quan hệ “hợp tác hai chiều” (nhận và cho) giữa Việt Nam với tổ chứcLiên hợp quốc này.

Ông cho biết từ trước tới nay Việt Nam chủ yếu là “người nhận,” Việt Namluôn mong muốn tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của UNESCO trong việc thực hiệnchiến lược giáo dục của Việt Nam của mình trong thời gian tới. Thì nay, Việt Namsẽ là “người cho.” Nghĩa là Việt Nam sẽ ủng hộ UNESCO trong việc thực hiện chiếnlược “giáo dục cho tất cả mọi người” và phổ cập giáo dục cho đồng bào các dântộc thiểu số. Đây là một lĩnh vực mà Việt Nam có rất nhiều kinh nghiệm.

Việt Nam sẽ tổng kết kinh nghiệm trong lĩnh vực này và phổ biến lại choUNESCO hoặc sẽ là tác giả của một bản thảo nghị quyết nào đó góp phần phát triểnvăn hóa và khoa học giáo dục trên thế giới.

Với cương vị là Đại sứ, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnhUNESCO tại Pháp, một cơ quan đại diện của tổ chức phi chính phủ ở Pháp, Phó giáosư Dương Văn Quảng hứa sẽ đưa ra những tư vấn nhất định thông qua Ủy ban Quốcgia UNESCO của Việt Nam, để thúc đẩy sự phát triển mối quan hệ hợp tác giữaUNESCO và Việt Nam không chỉ về văn hóa, khoa học ỹ thuật, mà cả về giáo dục đàotạo “Vì lợi ích trăm năm trồng người” của Việt Nam./.

Lê Hà-Phương Nam/Paris (Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục