Có những trụ sở đã hoàn thành kiểm kê, phương án xử lý cũng đã được xây dựng, nhưng nhiều tháng sau vẫn đóng cửa vì còn chờ hoàn tất thủ tục. Cũng có những khu đất nằm ở vị trí thuận lợi, được xác định có thể đấu giá hoặc chuyển đổi công năng, song vẫn chưa thể đưa vào khai thác do vướng quy hoạch, hồ sơ pháp lý hoặc chưa thống nhất được phương án sử dụng.
Đây là thực tế diễn ra tại nhiều địa phương sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính.
Điều đáng nói, vướng mắc hiện nay không nằm ở chủ trương hay quyết tâm, mà chủ yếu ở những "điểm nghẽn" về thể chế, quy trình và tâm lý e ngại trách nhiệm trong quá trình thực thi.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, hầu hết các bộ, ngành và địa phương đều thống nhất quan điểm phải khẩn trương đưa tài sản công dôi dư vào khai thác, hạn chế tối đa tình trạng bỏ hoang, xuống cấp.
Nhiều địa phương đã hoàn thành rà soát, kiểm kê, xây dựng phương án xử lý đối với từng cơ sở nhà, đất; đồng thời thành lập các tổ công tác để theo dõi, đôn đốc tiến độ thực hiện.
Tại các địa phương, quá trình xử lý một cơ sở nhà, đất dôi dư thường phải trải qua nhiều bước: rà soát hiện trạng, xác lập quyền quản lý, cập nhật quy hoạch sử dụng đất, xác định giá trị tài sản, lựa chọn phương án khai thác, lấy ý kiến các cơ quan liên quan và hoàn thiện các thủ tục theo quy định của pháp luật về tài sản công, đất đai, đầu tư, xây dựng.
Chỉ cần một khâu chưa hoàn thành, toàn bộ quy trình có thể phải dừng lại. Điều này khiến không ít tài sản, dù đã xác định rõ hướng xử lý, vẫn phải tiếp tục chờ đợi trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.
Tỉnh Tây Ninh là một ví dụ phản ánh rõ những áp lực mà các địa phương đang đối mặt. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, toàn tỉnh có 3.386 cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý, trong đó 876 cơ sở thuộc diện điều chuyển hoặc chuyển giao.
Đến nay, toàn bộ 420 cơ sở nhà, đất dôi dư đã được rà soát, xây dựng phương án xử lý. Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp không ít khó khăn khi khối lượng tài sản tiếp nhận rất lớn, hồ sơ pháp lý của nhiều cơ sở chưa đầy đủ, nhiều công trình đã xuống cấp trong khi nguồn lực đầu tư còn hạn chế.
Đội ngũ công chức làm công tác tài chính ở cấp xã còn mỏng, nhiều cán bộ mới tiếp cận nhiệm vụ nên kinh nghiệm xử lý tài sản công chưa nhiều.
Mới đây, tại buổi giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh Phạm Hùng Thái đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh tiếp tục đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và triển khai phương án xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư; đồng thời yêu cầu việc thực hiện phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật, phòng ngừa thất thoát và lãng phí tài sản công.
Những khó khăn của Tây Ninh cũng là tình trạng chung của nhiều địa phương. Theo các chuyên gia, điều đó cho thấy, vấn đề hiện nay không còn là nhận thức hay quyết tâm, mà nằm ở khả năng biến chủ trương thành hành động thông qua một quy trình đủ rõ ràng, đủ linh hoạt và phù hợp với thực tiễn.
Tại Phú Thọ, mặc dù đã chủ động chuyển đổi nhiều trụ sở cũ thành trường học, cơ sở phục vụ cộng đồng, song lãnh đạo tỉnh cho biết quá trình xử lý vẫn phải thực hiện đồng thời nhiều thủ tục liên quan đến quản lý tài sản công, đất đai, quy hoạch và đầu tư, việc xử lý tài sản sau sắp xếp phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật, đúng quy hoạch phát triển và phù hợp với nhu cầu thực tế của từng địa phương.
Vì vậy, bên cạnh yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, các địa phương cũng rất cần một cơ chế thống nhất, rõ ràng để cán bộ yên tâm triển khai.Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là vấn đề định giá tài sản.
Đối với các khu đất có vị trí thuận lợi, việc xác định giá khởi điểm luôn là bài toán khó. Nếu xác định giá quá cao, việc đấu giá khó thành công, tài sản tiếp tục bị bỏ trống. Nếu xác định giá thấp hơn giá thị trường, lại phát sinh tâm lý lo ngại trách nhiệm trong quá trình thực thi, đặc biệt là nguy cơ bị xem xét thất thoát tài sản nhà nước.
Chính tâm lý “làm chậm để an toàn” đã khiến không ít hồ sơ phải xin ý kiến qua nhiều cấp, kéo dài thời gian xử lý. Đây được xem là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tài sản công dôi dư chưa được đưa vào khai thác kịp thời.
Không ít trường hợp, dù nhu cầu sử dụng đã rõ ràng, nhưng do vướng thủ tục pháp lý liên quan đến đất đai, quy hoạch hoặc đầu tư công, việc chuyển đổi công năng hoặc đấu giá vẫn bị đình trệ.
Trong khi đó, tài sản tiếp tục xuống cấp theo thời gian, phát sinh chi phí quản lý, bảo vệ và làm giảm giá trị sử dụng.
Nhận diện rõ thực trạng này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 31/2026/NQ-CP về cơ chế, chính sách đặc thù trong xử lý nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
Đây được xem là bước điều chỉnh quan trọng trong tư duy quản lý tài sản công, từ cách tiếp cận thuần túy hành chính sang hướng khai thác nguồn lực phát triển.
Nghị quyết 31 cho phép áp dụng một số cơ chế đặc thù nhằm rút ngắn quy trình xử lý, đồng thời tăng cường phân cấp cho địa phương trong việc quyết định phương án sử dụng, điều chuyển, cho thuê hoặc đấu giá tài sản công.
Thay vì phải xin ý kiến qua nhiều cấp như trước đây, các địa phương được trao quyền chủ động hơn trên cơ sở quy hoạch và thực tiễn phát triển.Đây là điểm thay đổi có ý nghĩa quan trọng, bởi chính quyền địa phương là nơi nắm rõ nhất nhu cầu sử dụng đất, định hướng phát triển kinh tế xã hội cũng như hiện trạng từng cơ sở nhà, đất.
Khi quyền quyết định được phân cấp mạnh hơn, thời gian xử lý được rút ngắn, đồng thời tăng tính linh hoạt trong khai thác tài sản công.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn nhấn mạnh việc xử lý nhà, đất dôi dư không chỉ nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, mà quan trọng hơn là giải phóng nguồn lực cho phát triển.
Theo Thứ trưởng, mỗi cơ sở nhà, đất được đưa vào khai thác là một nguồn lực được khơi thông, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước.
Thứ trưởng cũng yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát, xây dựng phương án xử lý, không để tài sản công tiếp tục bỏ hoang hoặc xuống cấp trong khi nền kinh tế đang cần thêm mặt bằng và nguồn lực để phát triển.
Ngay sau khi Nghị quyết 31 được ban hành, Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn triển khai, yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tiến hành tổng rà soát, phân loại toàn bộ nhà, đất dôi dư. Trên cơ sở đó, xác định rõ nhóm tài sản tiếp tục sử dụng cho mục đích công, nhóm tài sản cần điều chuyển, nhóm tài sản đủ điều kiện đấu giá hoặc cho thuê để khai thác hiệu quả.
Điểm đáng chú ý trong chỉ đạo là yêu cầu công khai, minh bạch toàn bộ quá trình xử lý tài sản công. Các địa phương phải xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà, đất dôi dư, cập nhật tiến độ xử lý và công khai danh mục tài sản đủ điều kiện khai thác.
Đây là bước quan trọng nhằm tăng tính minh bạch, hạn chế thất thoát và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận thông tin.
Cùng với đó, Bộ Tài chính cũng nhấn mạnh việc gắn trách nhiệm của người đứng đầu với tiến độ xử lý tài sản công. Những địa phương chậm triển khai, để xảy ra lãng phí hoặc thất thoát sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định; ngược lại, những nơi làm tốt sẽ được ghi nhận trong đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Theo Bộ Tài chính cần thay đổi cách tiếp cận đối với tài sản công dôi dư. Thay vì coi đây chỉ là đối tượng quản lý hành chính, cần nhìn nhận là nguồn lực phát triển có thể tạo ra giá trị kinh tế xã hội nếu được khai thác đúng hướng.
Mỗi cơ sở nhà, đất cần được đánh giá trên cơ sở nhu cầu thực tế của địa phương, khả năng khai thác và hiệu quả mang lại. Không phải tài sản nào cũng phù hợp để đấu giá, cũng không phải tài sản nào cũng nên tiếp tục sử dụng cho mục đích công.
Điều quan trọng là lựa chọn phương án tối ưu về tổng thể.Từ thực tiễn tại nhiều địa phương có thể thấy, những khó khăn hiện nay chủ yếu không nằm ở thiếu quyết tâm, mà nằm ở cơ chế còn phân tán, thủ tục còn nhiều tầng nấc và tâm lý e ngại trách nhiệm của người thực thi.
Khi các yếu tố này chưa được tháo gỡ đồng bộ, tiến độ xử lý tài sản công khó có thể đạt như kỳ vọng. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 31/2026/NQ-CP được xem là bước mở quan trọng, tạo hành lang pháp lý thống nhất để các địa phương chủ động hơn trong khai thác tài sản công.
Tuy nhiên, như nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, cơ chế chỉ là điều kiện cần, còn hiệu quả thực tế phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện và mức độ quyết liệt của chính quyền các cấp.
Đặc biệt, việc xử lý tài sản công dôi dư không chỉ là nhiệm vụ của ngành tài chính, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Mỗi cơ sở nhà, đất được đưa vào khai thác đúng thời điểm không chỉ góp phần chống lãng phí, mà còn mở thêm dư địa phát triển cho nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Sau khi các “điểm nghẽn” về thể chế từng bước được tháo gỡ, yêu cầu đặt ra không còn dừng ở việc xử lý nhanh hay chậm, mà là xử lý hiệu quả đến đâu, tạo ra giá trị gì cho phát triển. Đó cũng là thước đo quan trọng đối với chất lượng quản trị công trong giai đoạn hiện nay./.