Sau nhiều năm triển khai, bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa đạt quy mô tương xứng với mức độ rủi ro của sản xuất. Những hạn chế được chỉ ra không nằm ở một khâu riêng lẻ, mà liên quan đồng thời đến hành lang pháp lý, dữ liệu, chi phí, thủ tục và cách tổ chức thị trường.
Do đó, ngày 5/9/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ đã ký Nghị định 346/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp, văn bản sẽ có hiệu lực từ ngày 20/10/2026. Nghị định mới mở rộng các loại hình bảo hiểm nông nghiệp và phạm vi hỗ trợ, tạo thêm dư địa để chính sách chuyển từ thí điểm sang quản trị rủi ro phù hợp từng địa bàn.
Các vấn đề được đặt ra, như mức hỗ trợ hiện nay, đặc biệt đối với các nhóm ngoài hộ nghèo và cận nghèo, chưa tạo được sức hút đủ lớn. Tuy nhiên, tăng hỗ trợ phí không phải lời giải duy nhất. Bởi, sản phẩm chưa phù hợp hoặc thủ tục còn phức tạp, việc tăng mức hỗ trợ cũng khó tạo ra sự thay đổi bền vững. Vì thế, yêu cầu là phân loại mức hỗ trợ theo từng nhóm đối tượng. Vì vậy, các ý kiến đề xuất tiếp tục hỗ trợ phí nhưng xem xét lại mức hỗ trợ đối với từng nhóm, trong đó tăng hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo, nhóm hộ sản xuất hàng hóa quy mô lớn và các tổ chức sản xuất.
Ông Nguyễn Ngọc Anh, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, cho hay không thể cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho tất cả các rủi ro, vì không thể kiểm soát được các rủi ro phức tạp hoặc không có số liệu thống kê để tính toán. Hơn nữa, các số liệu thống kê chưa đáp ứng hết các yêu cầu của phục vụ cho công tác thiết kế sản phẩm và định phí bảo hiểm.
Về đối tượng áp dụng, ông Ngọc Anh đề xuất mở rộng đối với các hộ nông dân riêng lẻ thay vì chỉ hộ nghèo và cận nghèo, đồng thời mức hỗ trợ tương xứng về phí bảo hiểm (ví dụ hỗ trợ 40% phí, 60% nông dân tự đóng). Đối với phạm vi bảo hiểm, ông kiến nghị nên sửa đổi, bổ sung cần nêu cụ thể về rủi ro được bảo hiểm cho các loại hình sản xuất nông nghiệp, để doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình thực hiện.
Trong đó, rủi ro được bảo hiểm cũng phải tính toán và xem xét cho phù hợp với thực tế sản xuất/kinh doanh nông nghiệp, tránh tình trạng khác biệt quá nhiều với nhu cầu thực tế của nông dân. Mặt khác, các thủ tục yêu cầu về bồi thường về nguyên nhân tổn thất về thiên tai, dịch bệnh phải được đơn giản hóa. Đặc biệt công tác triển khai, cần có hướng dẫn cụ thể tới từng địa phương về việc phối hợp, cung cấp số liệu cho các doanh nghiệp bảo hiểm để thực hiện triển khai nhanh chóng.
Cùng với đó là bài toán dữ liệu, một yếu tố có tính nền tảng đối với thị trường bảo hiểm. Đến nay, số liệu tổn thất thiên tai chi tiết đến từng xã còn thiếu hoặc chưa đủ chính xác. Trong khi đó, doanh nghiệp bảo hiểm cần dữ liệu thực tế về tổn thất theo địa bàn để xây dựng sản phẩm và định phí. Nếu thiếu dữ liệu, doanh nghiệp phải đối diện với mức độ bất định cao hơn. Khi đó, sản phẩm có thể trở nên khó thiết kế, phí bảo hiểm khó xác định hoặc doanh nghiệp phải thận trọng hơn trong việc mở rộng phạm vi bảo hiểm.
Nếu dữ liệu là nền tảng kỹ thuật của thị trường, thì pháp lý là nền tảng để các chủ thể biết rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình. Theo ông Ngọc Anh, cần có quy định chế tài đối với các trường hợp không thực hiện cung cấp số liệu không nêu rõ được lý do khách quan đồng thời áp dụng ứng dụng công nghệ vào công tác bảo hiểm, đặc biệt là công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI).
Đồng tình với ý kiến trên, ông Vũ Tử Quân, Phó Giám đốc Ban Bảo hiểm Tài sản-Kỹ thuật, Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt, đề xuất việc hoàn thiện dữ liệu, trong đó bổ sung trách nhiệm cung cấp dữ liệu cấp thiết từ các cơ quan hữu quan. Cụ thể hơn, quy định mới nên bổ sung nội dung lựa chọn nguồn cung cấp các chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám chuẩn xác. Đặc biệt là phải cởi trói sản phẩm và giao quyền chủ động cho các doanh nghiệp bảo hiểm được linh hoạt nghiên cứu, xây dựng và phát triển sản phẩm phù hợp với đặc thù từng vùng miền.
Cách tiếp cận này cho thấy chính sách bảo hiểm nông nghiệp cần tính đến sự khác nhau về năng lực tài chính, quy mô sản xuất và mức độ rủi ro, thay vì áp dụng một cơ chế hỗ trợ theo cách đồng nhất.
Nghị định 346/2026/NĐ-CP ra đời liên quan trực tiếp đến tổ chức chính sách, là việc mở rộng phạm vi các đối tượng được hỗ trợ và nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Cụ thể, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp. Cá nhân sản xuất nông nghiệp khác được hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm và các tổ chức sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ tối đa 30% phí bảo hiểm.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp bảo hiểm, ông Đỗ Minh Hoàng, Thành viên Hội đồng quản trị Công ty Bảo hiểm Agribank, cho rằng Nghị định 346/2026/NĐ-CP tạo ra một bước mở quan trọng đối với thị trường bảo hiểm nông nghiệp.
Theo ông Đỗ Minh Hoàng, điểm đáng chú ý của nghị định mới không chỉ nằm ở việc sửa một số quy định kỹ thuật. Quan trọng hơn, chính sách đã mở thêm không gian để bảo hiểm nông nghiệp tiếp cận nhiều cách thức xác định rủi ro và tổn thất khác nhau đồng thời cho phép các địa phương chủ động hơn trong việc xác định phạm vi triển khai chính sách hỗ trợ.
Căn cứ vào chiến lược, kế hoạch phát triển của ngành nông nghiệp và định hướng phát triển đặc thù của từng địa phương, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể triển khai chính sách hỗ trợ phí trên toàn bộ địa bàn hoặc tại một số địa bàn cấp xã.
Đặc biệt, ông Hoàng nhấn mạnh việc bổ sung các loại hình bảo hiểm theo chỉ số năng suất, chỉ số thời tiết, chỉ số viễn thám và bảo hiểm tổn thất về thu nhập cho thấy tư duy về bảo hiểm nông nghiệp đang có sự chuyển dịch rõ rệt. Bảo hiểm không chỉ được nhìn nhận ở góc độ bồi thường cho tài sản bị tổn thất, mà ngày càng hướng tới bảo vệ dòng tiền, khả năng duy trì sản xuất và phục hồi sinh kế của người nông dân khi rủi ro xảy ra.
Đối với doanh nghiệp, vị đại diện Bảo hiểm Agribank chỉ ra đây là một dư địa phát triển rất lớn nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn. Muốn có sản phẩm tốt, trước hết phải có dữ liệu tốt, muốn định phí sát với thực tế, phải hiểu được đặc điểm rủi ro của từng vùng sản xuất. Vì vậy, việc hình thành và chia sẻ hệ thống dữ liệu về thời tiết, năng suất, dịch bệnh, tổn thất theo địa bàn sẽ là một trong những nền tảng quan trọng để bảo hiểm nông nghiệp phát triển bền vững.
“Tôi cũng cho rằng việc tăng tính chủ động cho các địa phương là một điểm rất phù hợp với thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Mỗi địa phương có cơ cấu cây trồng, vật nuôi, điều kiện khí hậu và mức độ rủi ro khác nhau. Một chính sách bảo hiểm hiệu quả vì thế khó có thể được thiết kế hoàn toàn theo một mô hình đồng nhất. Khi địa phương được chủ động hơn trong xác định địa bàn và đối tượng hỗ trợ, chính sách có điều kiện gắn sát hơn với nhu cầu thực tế của người sản xuất,” ông Hoàng nói.
Song, ông Đỗ Minh Hoàng cho rằng điều quan trọng nhất trong giai đoạn tới là biến “dư địa chính sách” thành “sản phẩm thực tế.” Người nông dân chỉ tham gia khi sản phẩm dễ hiểu, mức phí phù hợp, phạm vi bảo hiểm sát với rủi ro và việc giải quyết quyền lợi đủ nhanh, minh bạch. Doanh nghiệp cũng chỉ có thể mở rộng thị trường khi có dữ liệu, cơ chế chia sẻ rủi ro và môi trường chính sách ổn định.
Vì vậy, Nghị định mới nên được nhìn nhận như một điểm khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới của bảo hiểm nông nghiệp. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng số người tham gia hay tăng doanh thu phí bảo hiểm, mà là hình thành một cơ chế để Nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng và người sản xuất cùng chia sẻ rủi ro.
Khi đó, bảo hiểm sẽ thực sự trở thành một bộ phận của quản trị sản xuất nông nghiệp. Bảo hiểm giúp người nông dân chủ động hơn trước rủi ro, giúp doanh nghiệp có cơ sở đầu tư dài hạn vào thị trường và đồng thời góp phần giảm áp lực lên nguồn lực Nhà nước mỗi khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Đó cũng là bước chuyển cần thiết: Từ tư duy hỗ trợ sau tổn thất sang tư duy chủ động quản trị và phân bổ rủi ro ngay từ đầu chu kỳ sản xuất.
Các chuyên gia trong ngành có chung quan điểm, việc phát triển các hoạt động bảo hiểm vào khu vực Nông nghiệp-Nông dân-Nông thôn tại Việt Nam cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp, các hợp tác xã và nhà nông. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và định hướng cho người nông dân trong việc mua bảo hiểm nhằm mục tiêu đảm bảo sự phát triển bền vững của người dân làm việc trong khu vực sản xuất nông nghiệp.
Sau nhiều năm, bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu như một chương trình hỗ trợ, Nghị định 346/2026/NĐ-CP mở ra cơ hội để nhìn nhận đây như một cấu phần của hệ thống quản trị rủi ro nông nghiệp. Tuy nhiên, thách thức tiếp theo là biến dư địa chính sách thành những sản phẩm có thể triển khai, những hợp đồng người dân có thể tiếp cận và một cơ chế đủ sức chia sẻ tổn thất khi rủi ro xảy ra./
Bài 1: Bảo hiểm nông nghiệp: Công cụ quản trị rủi ro trước cú sốc thiên tai
Bài 2: Bảo hiểm nông nghiệp: Độ phủ thấp, sản phẩm chưa theo kịp nhu cầu quản trị rủi ro