Thế giới bước vào chu kỳ lãi suất mới sau cú sốc năng lượng

Cú sốc năng lượng từ cuộc xung đột ở Trung Đông đang buộc nhiều ngân hàng trung ương gác lại kế hoạch nới lỏng chính sách tiền tệ còn các nền kinh tế mới nổi phải cân nhắc giữa bảo vệ đồng nội tệ.

Bể chứa dầu tại cảng New York và New Jersey, Mỹ. (Ảnh: THX/TTXVN phát)
Bể chứa dầu tại cảng New York và New Jersey, Mỹ. (Ảnh: THX/TTXVN phát)

Tháng 9/2026 đánh dấu bước ngoặt của chính sách tiền tệ toàn cầu khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) lần lượt nâng lãi suất trong chưa đầy hai tuần.

Cú sốc năng lượng từ cuộc xung đột liên quan đến Trung Đông đang buộc nhiều ngân hàng trung ương gác lại kế hoạch nới lỏng chính sách tiền tệ, trong khi các nền kinh tế mới nổi phải cân nhắc giữa bảo vệ đồng nội tệ và hỗ trợ tăng trưởng.

Sự phân hóa giữa các ngân hàng trung ương

Ngày 16/9, Fed nâng lãi suất quỹ liên bang thêm 0,25 điểm phần trăm lên biên độ 3,75-4%, đợt tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023. Quyết định được thông qua với tỷ lệ phiếu ủng hộ tuyệt đối 12-0.

Ông Kevin Warsh, Chủ tịch Fed, khẳng định lạm phát đã ở mức quá cao trong thời gian quá dài và ổn định giá cả hiện là ưu tiên hàng đầu.

Trước đó vào ngày 10/9, ECB nâng lãi suất tiền gửi thêm 0,25 điểm phần trăm lên 2,5%, lần tăng thứ hai trong năm sau đợt điều chỉnh hồi tháng 6. Tiếp đó, ngày 18/9, BoJ nâng lãi suất chính sách lên 1,25%, mức cao nhất kể từ năm 1995.

Ông Kazuo Ueda, Thống đốc BoJ, cho biết chính sách tiền tệ của Nhật Bản đã bước sang một giai đoạn mới.

Ngược lại, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC tức ngân hàng trung ương) ngày 21/9 giữ nguyên lãi suất cơ bản cho vay (LPR) kỳ hạn 1 năm ở mức 3% và kỳ hạn 5 năm ở mức 3,5%. Đây là tháng thứ 16 liên tiếp Trung Quốc duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục.

Tại châu Á, ngân hàng trung ương Philippines ngày 27/8 nâng lãi suất lên 5%, lần tăng thứ ba liên tiếp kể từ tháng 4. Ngân hàng Indonesia ngày 23/9 giữ lãi suất ở mức 5,75%, sau khi đã tăng tổng cộng 1 điểm phần trăm trong quý 2.

Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) giữ nguyên lãi suất ở mức 5,25% tại cuộc họp tháng 8, còn Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BoT) duy trì lãi suất 1%, thấp nhất kể từ năm 2022.

ttxvn-fed-1407.jpg
Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tại Washington, D.C. (Ảnh: THX/TTXVN)

Những động lực cốt lõi

Các chuyên gia nhận định những quyết định trên dù được đưa ra độc lập đều xuất phát từ một mối lo chung: chi phí dầu mỏ và khí đốt tăng cao có thể gây ra một đợt khủng hoảng chi phí sinh hoạt mới. Sự đổ vỡ của thỏa thuận ngắn ngủi giữa Mỹ và Iran cùng mối đe dọa mới từ lực lượng Houthi dọc bờ Biển Đỏ đã xóa bỏ kỳ vọng giá năng lượng hạ nhiệt, đưa giá dầu Brent trở lại quanh ngưỡng 100 USD/thùng.

Ông Boris Vujcic, Phó Chủ tịch ECB, cho rằng giá năng lượng nhiều khả năng sẽ duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến. Theo ông, nếu lạm phát tiếp tục neo cao trong mùa Thu, thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình sẽ bị bào mòn, qua đó kéo lùi tăng trưởng kinh tế. Đây chính là thế khó của các nhà hoạch định chính sách: phải thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế giá cả trong khi nền kinh tế đã có dấu hiệu chững lại.

Theo giới phân tích, các ngân hàng trung ương lớn đang chịu sức ép phải chứng tỏ quyết tâm kiểm soát kỳ vọng lạm phát và kiềm chế lợi suất trái phiếu dài hạn, vốn đang ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ.

Tại Mỹ, lạm phát tháng 8 đứng ở mức 3,4%. Đáng chú ý, lạm phát lõi (không gồm giá năng lượng và thực phẩm tươi dễ biến động) đã hạ xuống mức thấp nhất kể từ tháng 3/2021 là 2,4%, nhưng Fed vẫn tăng lãi suất. Tương tự tại Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), lạm phát tháng 8 tăng lên 3,3% - mức cao nhất trong ba năm.

Đối với các nền kinh tế mới nổi, khi các nền kinh tế lớn tăng lãi suất, chênh lệch lãi suất bị thu hẹp và nguy cơ dòng vốn rút khỏi các thị trường này lại gia tăng.

Như trường hợp Indonesia, đồng rupiah của nước này đã mất khoảng 0,9% giá trị so với đồng USD trong ba tuần đầu tháng 9, song ngân hàng trung ương lựa chọn can thiệp thị trường ngoại hối thay vì tiếp tục tăng lãi suất. Còn với Philippines, ngân hàng trung ương lại viện dẫn giá dầu cao kéo dài, nguy cơ hiện tượng El Niño trở nên gay gắt và khả năng tăng lương để lý giải cho các đợt tăng lãi suất mang tính phòng ngừa.

Ở chiều ngược lại, Thái Lan ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng khi nền kinh tế chịu sức ép từ nhu cầu nội địa yếu và nợ hộ gia đình cao. Tại Trung Quốc, lạm phát tháng 8 chỉ ở mức 0,8%, tạo dư địa để PBoC duy trì chính sách nới lỏng.

Xu hướng cho giai đoạn tiếp theo

Theo biểu đồ dự kiến lãi suất (dot plot) công bố sau cuộc họp tháng 9, 16/18 quan chức Fed dự báo sẽ có thêm ít nhất một đợt tăng lãi suất trước cuối năm nay. Mức lãi suất trung vị dự báo cho cả năm 2026 và 2027 đều được nâng lên 4,1%, hàm ý Fed khó cắt giảm lãi suất trong năm tới để duy trì thế cân bằng mong manh giữa việc hỗ trợ việc làm và kiểm soát lạm phát kỳ vọng. Thị trường kỳ hạn hiện dự báo Fed sẽ thực hiện ba đợt tăng lãi suất nữa trong 12 tháng tới.

Tại châu Âu, hai nguồn tin cho biết ECB nhiều khả năng sẽ tăng lãi suất lần thứ ba trong năm vào tháng 12. Trước áp lực suy giảm cơ cấu dân số và tăng trưởng tiềm năng thấp, ECB dự kiến sẽ đưa lãi suất tiền gửi về ngưỡng 1,75-2,25% vào cuối năm 2026 và giữ nguyên mức này trong suốt năm 2027, tạo môi trường thanh khoản vừa đủ để các doanh nghiệp tái thiết năng lực cạnh tranh.

ttxvn-kinh-te-eurozone.jpg
Người dân mua sắm tại siêu thị ở Vienna, Áo. (Ảnh: THX/TTXVN)

Ở khu vực châu Á, BoJ được dự báo sẽ tiếp tục tiến trình thắt chặt một cách từ tốn, đưa lãi suất cơ bản chạm ngưỡng 1-1,25% trong năm 2027. Động thái này sẽ thu hẹp đáng kể khoảng cách lợi suất giữa Nhật Bản và thị trường tài chính quốc tế, kích thích dòng vốn ngoại tệ hồi hương và giúp định hình lại cấu trúc của các thị trường tài sản toàn cầu.

Trong khi đó, PBoC dự kiến sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ mang tính thích ứng cao với mặt bằng lãi suất thực thấp trong suốt giai đoạn 2026-2027. Chính phủ nước này vẫn ưu tiên bơm vốn mục tiêu vào các ngành công nghệ cao và tiêu dùng nội địa nhằm vượt qua giai đoạn chuyển đổi mô hình kinh tế đầy thử thách.

Triển vọng chính sách của các nền kinh tế mới nổi tiếp tục phân hóa. Ngân hàng trung ương Philippines dự báo lạm phát bình quân vẫn vượt ngưỡng trần 4% trong cả năm 2026 và 2027, đồng nghĩa với việc chu kỳ thắt chặt tại nước này có thể chưa dừng lại.

Tại Indonesia, các chuyên gia kinh tế dự báo nước này sẽ duy trì lãi suất ở mức 5,75% trong năm nay và 2027, miễn là áp lực lên đồng nội tệ không gia tăng. Ở chiều ngược lại, ngân hàng Nomura dự báo Thái Lan sẽ giữ nguyên lãi suất 1% đến hết năm 2027, dù BoT cho biết vẫn còn dư địa hạ lãi suất nếu xảy ra khủng hoảng.

Theo hãng tư vấn EY, chính sách tiền tệ toàn cầu ngày càng phân hóa khi các ngân hàng trung ương phải cân bằng giữa tăng trưởng chậm lại, áp lực lạm phát quay trở lại và yêu cầu giữ vững uy tín chính sách.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt 3% năm 2026 và 3,4% năm 2027, song cú sốc từ xung đột đang gây áp lực lên các nước nhập khẩu năng lượng và các nền kinh tế dễ tổn thương. Diễn biến tại Trung Đông vì vậy được cho vẫn là yếu tố then chốt định hình lộ trình lãi suất toàn cầu trong những tháng tới./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

(Ảnh: AFP/TTXVN)

Đồng USD duy trì gần mức cao nhất trong 2 tháng

Chỉ số đồng USD (đo lường giá trị của đồng tiền bạc xanh so với rổ các đồng tiền chủ chốt khác) tăng nhẹ lên mức 101,2 và đang trên đà tăng 1,8% trong tháng này, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 6/2026.