Thời gian bảo quản được kéo dài không chỉ giúp giảm tổn thất sau thu hoạch mà còn mở rộng thị trường cho nông sản Việt. Từ những doanh nghiệp đầu tư đồng bộ công nghệ làm sạch, xử lý hơi nước nóng, kho lạnh đến yêu cầu hoàn thiện chuỗi từ thu hoạch, sơ chế, bảo quản, logistics và chế biến, công nghệ sau thu hoạch đang trở thành một trong những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Kéo dài thời gian, mở rộng thị trường
Với những doanh nghiệp xuất khẩu trái cây tươi, khoảng cách địa lý luôn đi cùng áp lực về thời gian và chất lượng sản phẩm. Một lô hàng từ vùng nguyên liệu đến tay người tiêu dùng phải trải qua nhiều công đoạn; trong đó chỉ cần một khâu bảo quản không phù hợp cũng có thể làm giảm chất lượng, gia tăng hao hụt và ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.
Tại Công ty Goodlife, công nghệ sau thu hoạch được xác định là một trong những nền tảng để duy trì chất lượng trái cây xuất khẩu. Bà Trần Nguyễn Khánh Vy, Phó Tổng Giám đốc Công ty Goodlife, cho biết doanh nghiệp là một trong những đơn vị sớm ứng dụng công nghệ xử lý nhiệt hơi nước nóng, đưa vào hoạt động từ năm 2012.
Hiện Goodlife xuất khẩu hơn 5.000 tấn trái cây mỗi năm, gồm thanh long, xoài, dừa, dứa...; trong đó thanh long chiếm hơn 80% sản lượng, xuất khẩu sang nhiều thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Australia, New Zealand, Canada và châu Âu.
Với những thị trường yêu cầu tiêu chuẩn cao, để duy trì chất lượng trái cây tươi trong suốt quá trình, mỗi công đoạn đều được doanh nghiệp ứng dụng công nghệ phù hợp, như công nghệ làm sạch bằng nanoplasma; công nghệ xử lý nhiệt hơi nước nóng từ Nhật Bản để xử lý côn trùng, đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật của các thị trường nhập khẩu, đồng thời hỗ trợ kiểm soát nấm mốc và kéo dài thời gian bảo quản. Bên cạnh đó, hệ thống kho lạnh được đầu tư để kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và thông gió; hệ thống khử khí ethylene giúp làm chậm quá trình chín của trái cây.
“Việc kết hợp đồng bộ các công nghệ giúp chất lượng sản phẩm ổn định hơn, kéo dài thời gian bảo quản và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường xuất khẩu, tạo dư địa tìm kiếm thị trường mới. Sản lượng xuất khẩu của Goodlife tăng trưởng trên 30% mỗi năm. Doanh nghiệp đang có kế hoạch mở rộng thêm các sản phẩm chế biến, qua đó nâng tỷ trọng giá trị gia tăng thay vì chỉ tập trung vào trái cây tươi”, bà Trần Nguyễn Khánh Vy cho biết.
Chuyển động cùng các doanh nghiệp xuất khẩu, các đơn vị trong chuỗi cung ứng cũng đang đầu tư theo hướng tích hợp nhiều công đoạn. Đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Chiếu xạ Toàn Phát cho biết, công nghệ bảo quản ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc kéo dài thời gian lưu giữ nông sản, đáp ứng các hành trình vận chuyển dài và giảm rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng.
Theo doanh nghiệp, việc bố trí kho lạnh gắn với vùng nguyên liệu và kết hợp các công đoạn như chiếu xạ, lưu trữ tại cùng một địa điểm giúp giảm số lần trung chuyển, tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển và hạn chế phát sinh trong quá trình logistics. Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu giảm phát thải và phát triển logistics xanh.
Đơn vị cũng đang tích cực vận hành mô hình logistics kết hợp chiếu xạ theo các tiêu chuẩn quốc tế, gắn với phát triển bền vững, nhằm đảm bảo chất lượng, độ tin cậy, tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng công nghệ bảo quản nông sản của Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện; trong đó thời gian bảo quản của trái bưởi đã lên đến 70 ngày… Đây là giải pháp cạnh tranh để trái cây Việt rộng đường sang những thị trường lớn, khoảng cách địa lý xa, với chi phí hợp lý.
“Việc hoàn thiện hạ tầng công nghệ từ khâu thu hoạch, sơ chế, bảo quản, vận chuyển đến xuất khẩu đã giúp nông sản Việt không ngừng tăng tốc, mở rộng thị trường. Sự bùng nổ kim ngạch xuất khẩu rau quả vài năm trở lại đây có sự đóng góp không nhỏ từ công nghệ bảo quản. 8 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả đạt trên 6 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2025”, ông Đặng Phúc Nguyên cho biết.
Hoàn thiện chuỗi công nghệ sau thu hoạch
Thực tế cho thấy đầu tư công nghệ bảo quản tại doanh nghiệp mới chỉ giải quyết một phần bài toán sau thu hoạch. Nếu sản phẩm được thu hái, sơ chế hoặc vận chuyển không đúng kỹ thuật trước khi đưa vào kho lạnh thì chất lượng ban đầu đã suy giảm và rất khó khôi phục bằng công nghệ bảo quản.
Tại Công ty Hoàng Phát Fruit, bà Nguyễn Nam Phương Thảo, Giám đốc Kinh doanh cho biết để xuất khẩu trái cây tươi đến các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Australia và New Zealand, doanh nghiệp phải kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu. Dự kiến những tháng cuối năm 2026, sản lượng xuất khẩu của doanh nghiệp đạt khoảng 400-500 tấn/tháng sang Hàn Quốc và Nhật Bản, cùng 100-200 tấn/tháng sang Mỹ và các thị trường châu Úc.
“Yêu cầu của các thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe, đặc biệt về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các tiêu chuẩn kỹ thuật. Do đó, doanh nghiệp phải phối hợp với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu đáp ứng tốt hơn các yêu cầu này. Việc đồng bộ công nghệ trong các khâu sẽ đảm bảo quá trình xử lý nhanh, dễ dàng truy xuất khi có vấn đề và đảm bảo tiến độ giao hàng cho đối tác”, bà Nguyễn Nam Phương Thảo cho biết.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổn thất sau thu hoạch ở nước ta vẫn ở mức cao, dao động từ 20-25% sản lượng, tương đương từ 3,5-4,1 tỷ USD mỗi năm, chiếm 12% GDP ngành nông nghiệp.
Giải bài toán này, theo Tiến sỹ Lê Minh Hùng, Giám đốc Phân viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ Sau thu hoạch, những năm gần đây Việt Nam đã có thêm nhiều đầu tư về công nghệ, thiết bị nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và tỷ lệ tổn thất đã từng bước giảm. Tuy nhiên, hạn chế vẫn tồn tại ở nhiều công đoạn; trong đó khâu thu hoạch còn thiếu thiết bị phù hợp.
Theo đại diện Phân viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ Sau thu hoạch, đặc điểm địa hình, khí hậu, vùng sản xuất và quy mô sản xuất nhỏ khiến việc áp dụng máy móc, thiết bị ở khâu thu hoạch gặp khó khăn. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ còn nhiều hạn chế.
Việt Nam có nhiều nghiên cứu về công nghệ và thiết bị sau thu hoạch, nhưng không ít kết quả mới dừng ở quy mô nhỏ. Trong khi đó, để đáp ứng các đơn hàng lớn và tiêu chuẩn cao của thị trường xuất khẩu, công nghệ phải được hoàn thiện ở quy mô công nghiệp, bảo đảm tính ổn định và hiệu quả kinh tế.
“Để công nghệ đi vào cuộc sống, cần nghiên cứu những thiết bị có quy mô phù hợp với hợp tác xã, hộ sản xuất, dễ sử dụng và có thể triển khai ngay tại vườn hoặc đồng ruộng. Đồng thời, một số công đoạn sơ chế, xử lý cũng cần được thực hiện ngay tại vùng nguyên liệu trước khi sản phẩm đưa về nhà đóng gói. Ngoài ra, cần có thêm các chương trình, dự án hỗ trợ doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm công nghệ cùng phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa sản phẩm công nghệ sau thu hoạch đáp ứng yêu cầu thị trường”, Tiến sỹ Lê Minh Hùng cho biết.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Trần Nguyễn Khánh Vy cho rằng, chính sách hỗ trợ cần tập trung hơn vào khả năng tiếp cận khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tự động hóa và nghiên cứu ứng dụng. Cùng với đó là tăng cường kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và khu nông nghiệp công nghệ cao để rút ngắn quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, các chương trình hỗ trợ nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại quốc tế, đào tạo nhân lực và chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ cũng có ý nghĩa quan trọng. Khi doanh nghiệp có điều kiện đầu tư vào công nghệ bảo quản, chế biến và quản lý chất lượng, nông sản không chỉ giảm được hao hụt mà còn có thêm cơ hội tiếp cận các thị trường có giá trị cao.
Công nghệ ngày càng đóng vai trò quyết định trong việc gia tăng sức cạnh tranh của nông sản khi xuất khẩu. Tuy nhiên, để biến lợi thế thành sức cạnh tranh, cần giải pháp đầu tư đồng bộ, kết nối chuỗi giá trị ngành hàng, từ vùng nguyên liệu đến nhà máy xử lý, chế biến và xuất khẩu. Khi chuỗi này được hoàn thiện, công nghệ bảo quản không chỉ giúp tăng thêm giá trị của nông sản sau thu hoạch, mà còn trở thành nền tảng để nâng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường và đưa nông sản Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu./.