Chiếm khoảng 22% diện tích sầu riêng cả nước, Đắk Lắk đang khẳng định vị thế “thủ phủ” của ngành hàng “vua trái cây.” Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh về diện tích, sản lượng đang vượt quá năng lực tổ chức sản xuất, chế biến cũng như tiêu thụ.
Trong bối cảnh quy chuẩn kỹ thuật của các thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe, việc xây dựng hệ sinh thái sầu riêng phát triển bền vững không còn là hướng đi khuyến khích, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để Đắk Lắk giữ vững thương hiệu và nâng cao sức cạnh tranh.
Yêu cầu tất yếu
Đắk Lắk hiện có khoảng 44.000ha sầu riêng; trong đó, diện tích cho thu hoạch gần 30.000 ha. Sản lượng năm 2026 dự kiến khoảng 500.000 tấn - sản lượng lớn nhất từ trước đến nay. Thời gian tới, ngay cả khi diện tích được duy trì ổn định, sản lượng vẫn sẽ tiếp tục tăng mạnh qua từng năm.
Thực tế này khiến tỉnh hội tụ cả tiềm năng lớn lẫn những thách thức điển hình của ngành sầu riêng: vùng nguyên liệu quy mô lớn nhưng hạ tầng chuỗi lạnh chưa đồng bộ; công nghệ bảo quản sau thu hoạch và năng lực chế biến sâu còn hạn chế; thời tiết mưa ẩm trong mùa thu hoạch làm gia tăng rủi ro bệnh hại; hạ tầng kiểm nghiệm, nghiên cứu ứng dụng chưa đáp ứng yêu cầu.
Bên cạnh đó, sản xuất trên địa bàn còn manh mún, liên kết chuỗi lỏng lẻo và dễ phá vỡ khi giá biến động, trong khi năng lực kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc chưa theo kịp tốc độ phát triển.
Theo ông Lê Minh Hoan, Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, việc chuyển từ tư duy “chuỗi ngành hàng” sang tư duy “hệ sinh thái ngành hàng” là một bước ngoặt mang tính chiến lược.
Đã đến lúc sầu riêng Đắk Lắk phải tìm một không gian phát triển mới dựa vào bản chất và hoạt động của hệ sinh thái ngành hàng. Chuỗi ngành hàng thường chỉ xoay quanh hai tác nhân chính là người sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ với tầm nhìn ngắn hạn theo mùa vụ.
Trong khi đó, hệ sinh thái ngành hàng bao hàm đa thành phần như: nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp vật tư, đơn vị xuất khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, viện - trường, lực lượng khuyến nông, logistics, cơ quan kiểm dịch và người tiêu dùng.
“Vai trò của chính quyền là hạt nhân kết nối các thành phần trong hệ sinh thái để cùng hành động vì sứ mệnh chung. Chúng ta phải đặt ra bài toán lộ trình 5 năm, 10 năm cho sầu riêng Đắk Lắk để phát triển bền vững, chuyển từ tư duy mua bán mùa vụ sang hợp tác dài hạn.
Doanh nghiệp phải đồng hành, đầu tư cho nông dân và hợp tác xã về giống, phân bón, quy trình canh tác, tiêu chuẩn kỹ thuật… thay vì chỉ thu mua đơn thuần. Khi đó, thứ chúng ta bán ra không chỉ là một trái cây, mà là chất lượng của một vùng đất, năng lực của một ngành hàng và niềm tin vào nông sản Việt Nam” - Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Thái Thanh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Ban Mê Green Farm cho rằng, chìa khóa để ngành hàng vươn xa là sự liên kết khép kín từ vùng nguyên liệu, nhà máy đến thị trường. Trong đó, chính quyền địa phương là một trong những yếu tố tiên quyết để hệ sinh thái ngành hàng hoạt động hiệu quả.
Chính quyền địa phương đóng vai trò nắn chỉnh, giám sát tiến trình phát triển của ngành hàng để đảm bảo chuẩn hóa chất lượng, tạo uy tín bền vững và minh bạch toàn bộ quy trình sản xuất.
Đồng hành cùng bứt phá
Từ những khu vườn đất đỏ bazan, sầu riêng Đắk Lắk đã vươn ra thế giới. Hành trình tiếp theo không chỉ đưa nhiều trái sầu riêng đi xa hơn, mà phải đưa giá trị, uy tín và thương hiệu Đắk Lắk vươn xa hơn.
Tiến sĩ Nguyễn Thành Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam đề xuất, Đắk Lắk cần tập trung xây dựng các vùng trồng quy chuẩn, mở rộng mã số vùng trồng và sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế.
Tỉnh cần có biện pháp quản lý hệ thống về lịch mùa vụ, chế tài kiểm soát chất lượng; đồng thời lập bản đồ nông hóa thổ nhưỡng để khắc phục tình trạng suy thoái đất. Ngoài ra, việc nghiên cứu lai tạo giống mới thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng dụng công nghệ bảo quản - chế biến sâu để tận dụng phụ phẩm sẽ giúp nâng cao giá trị gia tăng, giảm thiểu hao hụt.
Ở góc độ quản lý xuất nhập khẩu, Tiến sĩ Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) khuyến nghị, tỉnh Đắk Lắk cần phải giám sát chặt chẽ tại các cơ sở đóng gói và vùng trồng đã được cấp mã số, đặc biệt lưu ý đến việc sử dụng hóa chất trong sản xuất và sau thu hoạch; rà soát, quy hoạch lại vùng nguyên liệu và thúc đẩy liên kết chuỗi minh bạch.
Nhà vườn, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu chủ động kiểm soát dư lượng Cadmium, Vàng O và các chỉ tiêu an toàn thực phẩm trước khi xuất hàng.
Bên cạnh việc giữ vững thị phần tại Trung Quốc, tỉnh Đắk Lắk cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, cơ cấu lại ngành theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm đông lạnh và chế biến sâu, nâng cao năng lực cung ứng phục vụ thị trường xuất khẩu cao cấp.
Bà Nguyễn Thị Thành Thực, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Việt Nam bổ sung thêm góc nhìn về mô hình canh tác và xu hướng tiêu dùng. Theo bà, mô hình xen canh sầu riêng trong vườn cà phê, hồ tiêu tại Tây Nguyên là một xu hướng nông nghiệp tiến bộ, cần có chiến lược truyền thông và bảo vệ sự khác biệt này.
“Việc xuất khẩu trái tươi hiện lãng phí tới 70% trọng lượng sản phẩm (do vỏ và hạt chiếm tỷ trọng lớn), vô hình tạo gánh nặng xử lý môi trường cho nước nhập khẩu. Nếu có chiến dịch truyền thông bài bản, chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi thói quen tiêu dùng.
Tương lai ngành hàng sẽ nằm ở sản phẩm bóc múi cấp đông và nguyên liệu chế biến thực phẩm chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào trái tươi. Ngoài ra, đối với tỉnh nông nghiệp trọng điểm như Đắk Lắk, ngoài cán bộ ngành nông nghiệp, cần tập huấn và đào tạo về chính sách, lợi thế ngành hàng, chuyển đổi số nông nghiệp, số hoá vùng trồng cho toàn thể cán bộ, viên chức” - Bà Thực phân tích.
Đại diện lãnh đạo địa phương, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk Đào Mỹ khẳng định, quan điểm của tỉnh là không chạy theo sản lượng mà chuyển mạnh từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang tư duy “kinh tế nông nghiệp,” từ bán sản phẩm sang xây dựng chuỗi giá trị và thương hiệu.
Tỉnh sẽ quản lý chặt chẽ vùng trồng, không phát triển diện tích tự phát, phá vỡ quy hoạch, thiếu liên kết với thị trường; kiểm soát chặt chẽ chất lượng; xây dựng mối liên kết sản xuất, tiêu thụ, chế biến, tiêu thụ ổn định, lâu dài; khuyến khích doanh nghiệp ký kết hợp đồng liên kết với hợp tác xã và người sản xuất; từng bước hạn chế tình trạng mua bán theo thời điểm và “tranh mua, tranh bán,” phá vỡ hợp đồng khi giá thị trường biến động; đẩy mạnh chế biến sâu, logistics và nâng cao giá trị gia tăng.
Tỉnh Đắk Lắk cam kết tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến sâu, cấp đông, kho lạnh, trung tâm đóng gói, logistics và các sản phẩm chế biến từ sầu riêng.
Hành trình vươn xa của sầu riêng Đắk Lắk đang bắt đầu từ việc kiến thiết một hệ sinh thái ngành hàng bài bản và minh bạch. Với sự đồng hành của các bộ, ngành, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân, “thủ phủ sầu riêng” Đắk Lắk đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm sản xuất, chế biến và xuất khẩu hàng đầu cả nước./.
Xây thương hiệu sầu riêng Đắk Lắk từ trái cây đặc sản đến ngành hàng có vị thế