Gắn liền với ký ức thịnh vượng của nghề may veston, di sản Vân Từ hôm nay bước vào dòng chảy mới trong thời đại số, kiến tạo giá trị kinh tế trong đời sống đương đại.
Từ khi Phú Xuyên vẫn còn là Hà Tây, tấm biển mang dòng chữ “Làng nghề may Vân Từ” tọa lạc nơi đầu làng đã khiến nhiều người chú ý.
Trong số những người khách đến từ nơi khác, không ít người bày tỏ sự ngạc nhiên, thậm chí hơi buồn cười, vì không nghĩ rằng may mặc cũng có thể trở thành một làng nghề, và dường như những bộ comple, veston có vẻ khá hiện đại khi được gắn bên từ “truyền thống.”
Nhưng thật ra, nghề may mặc tại đây đã có tuổi đời trên dưới 100 năm, hoặc nói đúng hơn, những người con của làng đã bắt đầu công việc này từ 100 năm trước. Từ những năm 1920 của thế kỷ trước, nhiều người dân làng Cựu, làng Từ Thuận của thôn Vân Từ đã ra Hà Nội làm việc kiếm sống.
Họ làm thuê, học nghề tại những hiệu chuyên may đo comple-veston, rồi dần dà tự mở cửa hàng riêng, đưa những người bà con khác ra Hà Nội làm việc, đưa nơi này trở thành “cái nôi” đào tạo nên những thợ may lành nghề của đất Hà Nội xưa.
Trải qua thời gian, qua nhiều thăng trầm của lịch sử, dần dần nghề may veston của Hà Nội cũng không còn thịnh vượng như xưa, chỉ còn lại một số cửa hiệu lớn còn tồn tại nơi phố cổ.
Nhưng dù nghề đã mai một, thì tay nghề của những người thợ vẫn còn vẹn nguyên. Và đến những năm 70-80 của thế kỷ trước, tại ngôi làng nhỏ cách trung tâm Hà Nội hơn 30km này, những người con của thôn Vân Từ ấy đã quyết tâm gây dựng lại nghề cũ trên quê hương, lập nên những cụm may mặc thủ công, thu hút hàng loạt những người dân địa phương đến học nghề, sản xuất.
Năm 1992, những người thợ tài hoa đã mở hai lớp dạy may comple-veston cho thế hệ trẻ. Từ hai lớp học ban đầu với gần 70 học viên đó, nhiều thợ trẻ của Vân Từ đã ra nghề, dần dần phát triển mạnh.
Đến khi đất nước chuyển mình bước vào thời kỳ mới, đời sống con người được nâng cao, mặc đẹp đã trở thành một nhu cầu thiết yếu, người dân Hà Nội bắt đầu tìm mua nhiều hơn những bộ veston lịch lãm, vừa vặn, phù hợp hơn với thể hình của người Việt Nam, thì cũng là lúc làng may Vân Từ bắt đầu bước vào thời kỳ nở rộ.
Giá trị cốt lõi làm nên danh tiếng làng may Vân Từ nằm ở kỹ thuật Bespoke thủ công tinh xảo. Một bộ veston chuẩn mực phải trải qua quy trình phối hợp 4 lớp vải tỉ mỉ: vải chính, mùng, lót và bông giúp trang phục có độ đứng phom, dày dặn, bền đẹp và không bị nhàu.
Người thợ thủ công phải trực tiếp xử lý triệt để các độ mo, tra tay áo êm vai, thùa khuy bằng tay và căn chỉnh phom dáng cá thể hóa chuẩn xác cho từng vóc người. Không chỉ vậy, người thợ phải đọc được tỷ lệ cơ thể, nhận biết đặc tính chất liệu và tính toán cách cắt, ráp để trang phục vừa vặn, cân đối khi đứng cũng như khi vận động. Đây là kỹ năng đòi hỏi khắt khe sự tích lũy từ thực hành, quan sát và kinh nghiệm xử lý nhiều trường hợp thực tế.
Chính vì vậy, việc đào tạo một thợ may lành nghề theo phương thức truyền thống cần quãng thời gian rèn luyện rất dài, mất từ 5 đến 10 năm để đạt được trình độ lành nghề. Giá trị thủ công vì thế nằm ở sự phối hợp giữa kỹ thuật và cảm quan kinh nghiệm của người thợ, là lợi thế để sản phẩm may đo truyền thống tạo khác biệt trước hàng may sẵn sản xuất hàng loạt.
Và ngày nay, khi đến với Vân Từ, ngay từ đầu làng người ta sẽ thấy hai bên đường trục chính san sát những ngôi nhà cao tầng khang trang, nơi người dân vừa ở, vừa sử dụng làm xưởng may và trưng bày sản phẩm, nơi tạo nên những bộ veston, comple được may đo tỉ mỉ, đường kim mũi chỉ sắc sảo, phom dáng hiện đại và sang trọng như lưu giữ một phần nét hào hoa của Hà Nội xưa.
Nghề may không chỉ tạo thu nhập cho người dân mà còn góp phần hình thành diện mạo kiến trúc đặc trưng của làng. Dấu ấn hoàng kim của những người thợ may nức tiếng hiện còn lưu lại tại những ngôi biệt thự cổ mang phong cách giao thoa Việt-Pháp ở Làng Cựu.
Trong bối cảnh thị trường thời trang thay đổi, phương thức sản xuất biến chuyển và những lựa chọn nghề nghiệp của người trẻ ngày càng đa dạng, nghề may truyền thống phải đối mặt với bài toán cạnh tranh và khả năng tiếp cận khách hàng.
Ngành dệt may Việt Nam đang định hướng chuyển dịch cơ cấu, từ đó cũng mở ra hướng đi mới cho làng may truyền thống. Sau nhiều năm phát triển dựa vào năng lực gia công và xuất khẩu, ngành đã và đang hướng tới nâng cao giá trị gia tăng, phát triển thương hiệu, ứng dụng công nghệ số, tự động hóa, quản trị dữ liệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo số liệu từ Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng 37 tỷ USD năm 2024 và tăng lên khoảng 46 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm những quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới. Quy mô thị trường cho thấy tiềm năng phát triển vẫn còn đáng kể, song cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, năng lực sản xuất và khả năng tạo dựng bản sắc riêng.
Trong bối cảnh đó, cơ hội cạnh tranh của làng nghề nằm ở giá trị sản phẩm. Với thế mạnh khác biệt về kỹ thuật may đo tinh xảo, khả năng cá nhân hóa trang phục, sự tỉ mỉ trong từng công đoạn hoàn thiện sản phẩm và câu chuyện văn hóa gắn với thương hiệu, nghề may Vân Từ hoàn toàn có thể vươn ra thị trường quốc tế.
Để chuyển hóa lợi thế tay nghề thành giá trị kinh tế, các cơ sở may cần xác định rõ sản phẩm chủ lực, năng lực sản xuất, nguồn nguyên liệu, giá thành và phương thức giao hàng, hướng tới các phân khúc khách hàng coi trọng chất lượng, sự vừa vặn, tính ổn định hoặc các sản phẩm thiết kế riêng có câu chuyện nguồn gốc rõ ràng.
Đồng thời, các cơ sở cũng cần tìm hiểu quy tắc xuất xứ để tận dụng ưu đãi từ những hiệp định thương mại tự do phù hợp. Hiệp định EVFTA và CPTPP tạo cơ hội cho hàng dệt may Việt Nam tiếp cận nhiều thị trường với ưu đãi thuế quan cho các sản phẩm có điều kiện xuất xứ và hồ sơ chứng minh đáp ứng được theo quy định tương ứng.
Bên cạnh đó, công nghệ và chuyển đổi số cũng mở ra không gian mới để làng nghề phát triển.
Việc ứng dụng công nghệ và máy móc hiện đại hỗ trợ ở những công đoạn phù hợp có thể tiết kiệm sức lao động, góp phần nâng cao năng suất, đồng thời tạo điều kiện để người thợ tập trung vào những thao tác đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ thuật tinh xảo.
“Chúng tôi hướng đến việc ứng dụng máy móc ở những khâu phù hợp để nâng cao hiệu quả công việc. Điều quan trọng là làm sao kết hợp được công nghệ với tay nghề truyền thống để giữ được giá trị cốt lõi,” anh Tuấn, chủ xưởng may vest ở làng Cựu chia sẻ.
Công nghệ số cũng mở ra nhiều phương thức tiếp cận thị trường. Bà Dương Thị Luyến (xã Chuyên Mỹ, Hà Nội) cho biết các hộ sản xuất làng nghề và kinh doanh sản phẩm làng nghề đã chuyển hướng sang bán hàng online qua mạng xã hội, kết hợp với bán hàng trực tiếp để duy trì nguồn thu ổn định.
“Việc đưa các sản phẩm may mặc lên sàn thương mại điện tử có thể giúp xưởng mở rộng tệp khách hàng, không chỉ giới hạn ở những khách hàng quen thuộc hay khách đến trực tiếp. Chúng tôi kỳ vọng rằng các nền tảng số sẽ giúp sản phẩm của làng nghề tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, qua đó tạo thêm cơ hội phát triển cho nghề may truyền thống”, bà Luyến nói.
Thông qua thương mại điện tử, làng nghề có thể kết nối dịch vụ may đo tận nơi và tiếp cận đông đảo khách hàng ngoài phạm vi địa phương. Việc kết hợp gian hàng trực tuyến với chuỗi chương trình livestream và talkshow tương tác trực tiếp giúp quảng bá hiệu quả, lan tỏa sâu rộng giá trị di sản làng nghề ra thị trường.
Song song với phương thức bán hàng trực tuyến, việc kết hợp với hoạt động du lịch trải nghiệm trực tiếp tại địa phương cũng tạo ra mô hình phát triển đa giá trị.
Làng nghề có thể thiết kế chương trình tham quan trực tiếp các sản phẩm trưng bày, các công đoạn may và trải nghiệm trực tiếp một số kỹ thuật cơ bản. Du khách đến Vân Từ có thể tìm hiểu lịch sử làng nghề, trải nghiệm nghề và tham gia các hoạt động văn hóa. Sự kết hợp này giúp du lịch không chỉ mang lại doanh thu từ dịch vụ tham quan, ăn uống, hướng dẫn mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ trực tiếp cho sản phẩm may mặc.
Về lâu dài, làng có thể kết nối với các làng nghề khác cùng trong xã và khu vực lân cận để hình thành mạng lưới di sản văn hóa sáng tạo phong phú, góp phần phát triển kinh tế du lịch.
Phát triển nghề may theo hướng hiện đại đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy kinh tế địa phương bền vững.
Không chỉ duy trì thu nhập cho đội ngũ thợ giỏi, làng nghề còn tạo ra nhiều cơ hội nghề nghiệp mới cho lực lượng lao động trẻ ngay tại quê hương, từ việc học nghề, thiết kế sản phẩm, làm nội dung số, hướng dẫn du lịch và tổ chức hoạt động sáng tạo, giúp lực lượng trẻ tiếp cận nghề may truyền thống qua lăng của thời đại mới.
Tương lai của nghề phụ thuộc vào khả năng kết hợp kỹ thuật truyền thống với thiết kế hiện đại, quản trị chuyên nghiệp và thị trường số. Công nghệ có thể hỗ trợ thiết kế, quản lý đơn hàng và kiểm soát chất lượng; nhưng kinh nghiệm, sự tỉ mỉ và khả năng xử lý những chi tiết phức tạp của người thợ vẫn là giá trị cốt lõi cần được gìn giữ.
Vì thế, việc thúc đẩy tinh thần sáng tạo và tạo động lực cho thế hệ trẻ cần được coi là phương án tiếp nối sức sống di sản, góp phần làm nghề may không ngừng phát triển trong thời kỳ hội nhập.
Định hướng phát triển triển khai theo tinh thần của “Đề án tổng thể phát triển làng nghề Hà Nội giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050,” được phê duyệt theo Quyết định 282/QĐ-UBND ngày 15/1/2025. Đề án đặt mục tiêu phát triển làng nghề gắn với du lịch, đào tạo người lao động, số hóa sản phẩm và mở rộng kênh giới thiệu, tiêu thụ.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, các kế hoạch cần đặt người thợ và cộng đồng ở vị trí trung tâm, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền hỗ trợ cơ chế và đào tạo, doanh nghiệp mở rộng thị trường, thế hệ trẻ đổi mới sáng tạo, còn người làm nghề trực tiếp giữ gìn chất lượng và bản sắc văn hóa của di sản.
Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế sáng tạo và du lịch cần được bố trí hài hòa với không gian làng cổ và đời sống cư dân, tránh gây áp lực lên di sản hay làm mất đi đặc trưng vốn có của làng cổ. Mục tiêu hướng đến phát triển văn hóa truyền thống làng nghề bền vững, khai thác luôn phải đi cùng với bảo tồn, gìn giữ.
Làng Vân Từ sẽ tiếp tục sống cùng nghề may cổ truyền, trở thành trung tâm sáng tạo và điểm đến du lịch di sản, tạo ra giá trị mới như một cách phát triển để gìn giữ và bảo tồn lâu dài./.