Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2069/QĐ-TTg ngày 29/10/2026, đánh dấu bước chuyển trong tư duy phát triển thị trường trong nước. Thay vì chỉ vận động người tiêu dùng ưu tiên hàng Việt, chương trình đặt ra yêu cầu sản phẩm trong nước phải có chất lượng, sức cạnh tranh và đủ sức hấp dẫn để được lựa chọn.
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) đã trao đổi về những điểm mới và giải pháp triển khai chương trình.
Cốt lõi là nâng tầm nội lực hàng Việt
- Thưa ông, đâu là những điểm mới căn bản trong cách tiếp cận của Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026-2030?
Ông Trần Hữu Linh: Chương trình được ban hành với nhiều điểm mới so với các chương trình, đề án phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trước đây.
Điểm mới nổi bật là đổi mới tư duy từ “ưu tiên dùng” sang “xứng đáng được tin dùng.” Các chương trình triển khai cuộc vận động thời gian qua đã phát huy hiệu quả trong việc khơi dậy niềm tự hào, tinh thần dân tộc và hình thành thói quen ưu tiên hàng Việt. Tỷ lệ hàng Việt tại một số hệ thống phân phối hiện đại hiện đạt mức tương đối cao.
Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường nội địa chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ hàng nhập khẩu giá rẻ và các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, việc khơi gợi trách nhiệm dân tộc là cần thiết nhưng chưa đủ. Chương trình xác lập mục tiêu cốt lõi là nâng tầm nội lực hàng Việt, lấy chất lượng, giá thành và trải nghiệm dịch vụ làm thước đo để chinh phục niềm tin của người tiêu dùng một cách lâu dài, bền vững.
Chương trình cũng chuyển từ cách tiếp cận mang tính phong trào sang xây dựng hệ sinh thái hàng Việt có tiêu chí rõ ràng và kết quả đo lường được. Lần đầu tiên, bộ nhận diện “Hàng Việt vì người Việt” thống nhất trên toàn quốc sẽ được xây dựng trên cơ sở các tiêu chí về xuất xứ Việt Nam, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn công bố áp dụng, yêu cầu về đo lường, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Cùng với đó, Nền tảng số hàng Việt Nam được xây dựng làm trục kết nối, xác thực dữ liệu về doanh nghiệp, sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, điểm phân phối và phản hồi của người tiêu dùng.
Một thay đổi quan trọng khác là chuyển chủ thể trung tâm từ “người tiêu dùng” sang “doanh nghiệp.” Nếu trước đây trọng tâm là vận động người tiêu dùng, thúc đẩy phía cầu thì nay tập trung vào bên cung: hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp năng lực sản xuất, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối.
Các hiệp hội ngành hàng cũng chuyển từ vai trò phối hợp, hỗ trợ sang chủ thể trực tiếp định hướng chuẩn mực ngành hàng, dẫn dắt doanh nghiệp hội viên xây dựng thương hiệu tiên phong.
Có thể nói, chương trình không chỉ dừng ở việc vận động người Việt dùng hàng Việt, mà quan trọng hơn là hàng Việt phải nâng cao chất lượng, giá trị và trải nghiệm để người Việt tin tưởng, sẵn sàng lựa chọn. Đó cũng là hàm nghĩa của tên gọi “Hàng Việt vì người Việt”: sản phẩm được tạo ra để phục vụ người Việt, từ nguyên liệu, thiết kế, công nghệ đến giá thành đều hướng đến nhu cầu thực tế của người tiêu dùng Việt Nam.
Vững thị trường trong nước, tạo nền tảng vươn ra quốc tế
- Những giải pháp nào sẽ được triển khai trong chương trình để giúp hàng Việt mở rộng thị phần và cạnh tranh lành mạnh, thưa ông?
Ông Trần Hữu Linh: Thị trường hơn 100 triệu dân với sức mua tăng trưởng hai con số là tài sản chiến lược của nền kinh tế. Để hàng Việt giữ vững và mở rộng thị phần, chương trình tập trung phát triển hệ thống phân phối hiện đại, thúc đẩy tiêu thụ trên các nền tảng thương mại điện tử và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Về hệ thống phân phối, chương trình hướng đến phát triển mạng lưới đa kênh, tích hợp giữa kênh truyền thống và hiện đại, giữa trực tiếp và trực tuyến, nhằm mở rộng độ phủ của hàng Việt. Các chương trình kết nối cung-cầu được triển khai ở quy mô quốc gia, vùng và địa phương theo ngành hàng.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, chủ thể OCOP được đào tạo, hỗ trợ về kinh doanh trực tuyến, marketing và xây dựng thương hiệu. Cùng với đó, cơ chế, chính sách phát triển hạ tầng thương mại sẽ được hoàn thiện, đặc biệt tại vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn, để hàng Việt đến được với người dân trên mọi miền đất nước.
Về kích cầu tiêu dùng, các chương trình khuyến mại tập trung quy mô lớn, thực chất sẽ được tổ chức theo mùa vụ, dịp lễ, Tết và ngày mua sắm trực tuyến. Chương trình khuyến khích phát triển các dịch vụ hỗ trợ như giao hàng nhanh, thanh toán không dùng tiền mặt, đổi trả linh hoạt, bảo hành minh bạch nhằm nâng cao trải nghiệm mua sắm hàng Việt.
Kênh tiêu thụ gắn với du lịch cũng được mở rộng thông qua các điểm trưng bày, giới thiệu và bán hàng Việt tại cửa khẩu, cảng biển, sân bay, khu du lịch.
Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, lực lượng quản lý thị trường cùng các lực lượng chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng nhập lậu và gian lận xuất xứ trên cả kênh truyền thống và thương mại điện tử.
Bên cạnh đó, chính sách về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc tiếp tục được hoàn thiện, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp, hàng hóa sản xuất trong nước và bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng.
- Theo ông, doanh nghiệp cần làm gì để hàng Việt đứng vững trên thị trường trong nước và vươn ra quốc tế?
Ông Trần Hữu Linh: Quan điểm xuyên suốt của chương trình là thị trường trong nước là mục tiêu chiến lược, thị trường quốc tế là động lực mở rộng; sản phẩm Việt chinh phục được thị trường nội địa là tiền đề để vươn ra các thị trường bên ngoài.
Doanh nghiệp cần đặt người tiêu dùng Việt Nam vào trung tâm chiến lược kinh doanh và coi thị trường trong nước là thị trường mục tiêu, không phải là bệ đỡ khi xuất khẩu gặp khó khăn.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp nghiên cứu sâu nhu cầu, thị hiếu của từng phân khúc khách hàng, từng vùng miền, nhất là nhóm người tiêu dùng trẻ đang chiếm tỷ trọng lớn trong mua sắm trực tuyến. Từ nguyên liệu, thiết kế, công nghệ đến giá thành, sản phẩm phải thực sự hướng đến người Việt, cạnh tranh bằng chất lượng, giá trị và trải nghiệm dịch vụ thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.
Doanh nghiệp cũng cần đầu tư thực chất vào công nghệ, chất lượng và minh bạch nguồn gốc; chuẩn hóa sản xuất theo tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu về đo lường; chủ động áp dụng giải pháp truy xuất nguồn gốc có khả năng kết nối với hệ thống truy xuất quốc gia.
Cùng với đó là từng bước chuyển từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ, thiết kế và nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong nước, nhất là ở các ngành có năng lực sản xuất lớn như dệt may, da giầy, thủy sản chế biến.
Một yêu cầu quan trọng khác là kiên trì xây dựng thương hiệu bài bản, dài hạn và bảo vệ tài sản trí tuệ. Thương hiệu không chỉ là nhãn hiệu hay hoạt động quảng bá, mà là kết quả tổng hợp của chất lượng ổn định, định vị sản phẩm rõ ràng, thiết kế và bao bì phù hợp thị hiếu, hệ thống phân phối và dịch vụ hậu mãi nhất quán.
Khi doanh nghiệp coi niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam là tài sản cốt lõi và đầu tư thực chất vào chất lượng, thương hiệu, hàng Việt sẽ không chỉ đứng vững trên thị trường trong nước mà còn có nền tảng vững chắc để vươn ra quốc tế, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Đặt mục tiêu duy trì tỷ lệ hàng Việt tại các siêu thị trong nước đạt trên 80%
Chương trình Hàng Việt vì người Việt giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu hàng Việt chiếm trên 80% tại siêu thị, đồng thời mở rộng thương mại điện tử và sức mua nội địa.