Hiệp định VEFTA mở cơ hội nâng tầm thủy sản Việt Nam tại thị trường cao cấp

Để chuyển cơ hội từ Hiệp định VEFTA thành kết quả thực tế, doanh nghiệp cần tăng cường quản trị chuỗi cung ứng, phát triển sản phẩm chuyên biệt và xây dựng quan hệ hợp tác dài hạn với đối tác.

Đóng gói tôm thành phẩm xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Đóng gói tôm thành phẩm xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (VEFTA) mở ra cơ hội để ngành thủy sản mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, tăng cường hợp tác công nghệ và nâng cao giá trị sản phẩm.

Trong số đó, Thụy Sĩ là thị trường có tiềm năng đối với các sản phẩm thủy sản Việt Nam ở phân khúc cao cấp, nhờ mức thu nhập cao và nhu cầu ngày càng chú trọng đến chất lượng, an toàn thực phẩm, nguồn gốc minh bạch và phương thức sản xuất bền vững.

Những năm qua, tôm sinh thái Việt Nam, đặc biệt là tôm nuôi dưới tán rừng ngập mặn đã tạo được chỗ đứng nhất định tại thị trường này và thu hút sự quan tâm của các nhà nhập khẩu trong phân khúc cao cấp.

Theo bà Lê Hằng, tôm rừng sinh thái là sản phẩm có lợi thế cạnh tranh riêng bởi giá trị không chỉ nằm ở chất lượng mà còn ở phương thức sản xuất gắn với bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, duy trì môi trường tự nhiên và sinh kế cộng đồng. Đây là cơ sở để doanh nghiệp nâng cao giá trị thương mại, tạo sự khác biệt cho sản phẩm thủy sản Việt Nam tại những thị trường có yêu cầu cao.

Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả cơ hội này, doanh nghiệp cần bảo đảm tính minh bạch, nhất quán trong toàn bộ chuỗi sản xuất; đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, chất lượng và tính bền vững, đồng thời duy trì nguồn cung ổn định. Chi phí đáp ứng tiêu chuẩn, duy trì chứng nhận, kiểm soát chuỗi cung ứng, bảo quản và vận chuyển cũng là những yếu tố cần được tính toán trong chiến lược kinh doanh. Doanh nghiệp cần xác định đúng phân khúc khách hàng và xây dựng mức giá phù hợp, tránh đưa sản phẩm cao cấp vào cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa phổ thông.

ttxvn-cong-nghiep-can-tho.jpg
Chế biến cá tra xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Caseamex, Khu công nghiệp Trà Nóc. (Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN)

Bên cạnh cơ hội xuất khẩu, Hiệp định VEFTA còn có thể tạo điều kiện để Việt Nam thúc đẩy hợp tác với Na Uy và Iceland - những quốc gia có ngành thủy sản phát triển, sở hữu nguồn nguyên liệu chất lượng cao cùng công nghệ khai thác, bảo quản và chế biến hiện đại.

Trong khi Việt Nam có lợi thế về năng lực chế biến và khả năng đáp ứng linh hoạt nhu cầu của khách hàng quốc tế, hai quốc gia này có thế mạnh về nguồn nguyên liệu như cá hồi, cá tuyết, cá thu, cá trích và các loài hải sản vùng biển lạnh.

Nếu tận dụng tốt các điều kiện thuận lợi từ hiệp định, doanh nghiệp Việt Nam có thể mở rộng nhập khẩu nguyên liệu từ Na Uy và Iceland để chế biến tại Việt Nam, qua đó gia tăng giá trị sản phẩm và phát triển các chuỗi cung ứng có tính bổ trợ.

Đồng thời, việc hợp tác với hai nước này sẽ tạo cơ hội tiếp cận công nghệ khai thác, hệ thống bảo quản trên tàu và phương thức quản lý nguồn lợi thủy sản hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của ngành khai thác hải sản trong nước.

Một hướng hợp tác đáng chú ý khác là phát triển công nghệ chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm thủy sản. Iceland có kinh nghiệm trong khai thác hiệu quả nguyên liệu, từ sản phẩm chính đến đầu, xương, da, nội tạng và các thành phần có giá trị sinh học cao.

Trong khi đó, phụ phẩm từ chế biến tôm, cá tra, cá ngừ và nhiều mặt hàng thủy sản khác của Việt Nam còn dư địa để nâng cao hiệu quả sử dụng. Việc tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản lý và phát triển sản phẩm từ phụ phẩm có thể góp phần gia tăng giá trị, giảm lãng phí nguyên liệu và cải thiện hiệu quả sản xuất.

Để tận dụng tốt các ưu đãi từ thuế, bà Lê Hằng cho rằng, VASEP lưu ý doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ biểu thuế, quy tắc xuất xứ và các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường. Đối với nguyên liệu nhập khẩu từ Na Uy và Iceland để chế biến rồi xuất khẩu sang thị trường thứ ba, doanh nghiệp phải xem xét cụ thể quy định về xuất xứ, mức độ gia công, chế biến và điều kiện hưởng ưu đãi tại thị trường đích. Việc nhập khẩu nguyên liệu từ EFTA và chế biến tại Việt Nam không đồng nghĩa sản phẩm đương nhiên được hưởng ưu đãi thuế quan tại mọi thị trường, bà Lê Hằng cho hay.

ttxvn-quoc-khanh-11-resize.jpg
Chế biến cá ngừ đại dương xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Thủy sản Bình Định (BIDIFISCO). (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

VASEP cho biết hiệp hội sẽ chú trọng cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ kết nối doanh nghiệp với nhà nhập khẩu và nhà phân phối tại Thụy Sĩ; đồng thời thúc đẩy xúc tiến thương mại, hợp tác hai chiều với Na Uy và Iceland trong các lĩnh vực nguyên liệu, chế biến, công nghệ khai thác, bảo quản và tận dụng phụ phẩm thủy sản.

Theo VASEP, giao dịch thủy sản Việt Nam sang EFTA còn khiêm tốn, trong đó giao dịch tập trung chủ yếu ở Thụy Sĩ và Na Uy. Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Thụy Sĩ đạt 34,123 triệu USD, tăng 15% so với năm 2024; sang Na Uy đạt 18,479 triệu USD, tăng 95%.

Để chuyển cơ hội từ Hiệp định VEFTA thành kết quả thực tế, doanh nghiệp cần tăng cường quản trị chuỗi cung ứng, phát triển sản phẩm chuyên biệt và xây dựng quan hệ hợp tác dài hạn với đối tác./.

​

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục