"Bản sao" ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” trong không gian cuộc trưng bày hồi tháng 1/2026, tại trụ sở Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. (Ảnh: Mai Mai/Vietnam+)

Khởi động kế hoạch “mở đường” đưa “di sản Việt Nam lưu lạc” về nước

Từ ấn vàng “Hoàng đế chi bảo,” đến trống đồng Đông Sơn vừa trở về từ Pháp, mỗi cuộc hồi hương cho thấy một phần lịch sử đang được nối lại. Và đặc biệt, Việt Nam đang tính đến lộ trình dài hơi hơn.

Sáng 10/9/2026 theo giờ Paris, tại trụ sở Bộ Văn hóa Cộng hòa Pháp, một chiếc trống đồng Đông Sơn hơn 2.000 năm tuổi được trao trả cho Việt Nam. Chiếc trống từng bị hải quan Rennes phát hiện, tịch thu năm 2014 do không có giấy tờ hợp lệ, sau đó được chuyển về Bảo tàng Nghệ thuật Rennes để bảo quản và nghiên cứu. Các nhà khoa học Pháp xác định hiện vật có niên đại khoảng thế kỷ V trước Công nguyên.

Chiếc trống không phải cổ vật Việt Nam đầu tiên tìm được đường từ nước ngoài trở về. Nhưng việc một hiện vật Đông Sơn trở lại đúng thời điểm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng Đề án đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị ở nước ngoài về nước khiến câu chuyện hồi hương này được nhìn thấy rõ hơn: Việt Nam không chỉ chờ những hiện vật “tình cờ” xuất hiện để tìm cách đưa về, mà đang hướng tới một cách làm chủ động hơn.

Trước đó, những cuộc trở về như ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” sau nhiều thập niên “lưu lạc xứ người,” hay tượng đồng Nữ thần Durga của văn hóa Champa cũng cho thấy Việt Nam có thể đưa những tài sản văn hóa đặc biệt quý giá trở về bằng nhiều con đường khác nhau.

Song, làm thế nào để những nỗ lực ấy không chỉ xuất hiện khi một cổ vật bất ngờ được phát hiện trên thị trường nghệ thuật quốc tế hoặc trong một cuộc điều tra về buôn bán trái phép mới là câu chuyện cần bàn.

Những cuộc trở về nối mạch di sản

Với chiếc trống đồng Đông Sơn vừa được Pháp trao trả, câu chuyện phía sau hiện vật đáng chú ý không kém bản thân hiện vật. Năm 2014, hải quan Rennes phát hiện và tịch thu chiếc trống do không có giấy tờ hợp lệ.

Hiện vật sau đó được đưa về Bảo tàng Nghệ thuật Rennes lưu giữ, nghiên cứu. Hơn 10 năm sau, chiếc trống trở về Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Pháp về bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Sáng 10/9/2026 (theo giờ Paris), lễ bàn giao Trống đồng Đông Sơn cho Việt Nam đã được tổ chức trọng thể tại trụ sở Bộ Văn hóa Cộng hòa Pháp. Trong ảnh: Bà Ngô Phương Ly, Phu nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; Bộ trưởng Văn hóa Pháp và Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông bên cạnh chiếc trống đồng Đông Sơn. (Nguồn ảnh: Bộ VHTTDL)

Đó là một cách hồi hương khác với trường hợp ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” trước đó.

Tháng 10/2022, khi hãng đấu giá Millon tại Paris công bố kế hoạch đưa chiếc ấn triều Nguyễn đúc năm 1823 ra đấu giá, Việt Nam lập tức xây dựng phương án hồi hương. Một đoàn công tác liên ngành được tổ chức để xác minh hiện vật, nghiên cứu hồ sơ pháp lý và đàm phán với phía Pháp.

Phiên đấu giá sau đó được hủy, hai bên chuyển sang thỏa thuận chuyển giao trên cơ sở đồng thuận và xử lý quyền lợi của các bên liên quan theo pháp luật Pháp. Năm 2023, chiếc ấn được chuyển giao tại Paris và về tới Việt Nam.

Giá trị của “Hoàng đế chi bảo” không chỉ nằm ở chất liệu vàng ròng (10,78 kg) hay kỹ thuật chế tác. Được đúc năm Minh Mạng thứ 4, tức năm 1823, chiếc ấn gắn với quyền lực của vương triều Nguyễn và một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

Chính vì vậy, cuộc hồi hương này không đơn thuần là đưa thêm một hiện vật quý vào bộ sưu tập quốc gia, mà còn là đưa trở lại một chứng tích lịch sử từng bị tách khỏi không gian văn hóa nơi nó hình thành.

Phía sau ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” là cả hành trình hồi hương ly kỳ. (Ảnh: Mai Mai/Vietnam+)

Tượng đồng Nữ thần Durga lại mở ra một con đường khác. Tháng 8/2023, Việt Nam nhận được thông tin về việc Bộ Tư pháp và Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ phối hợp với Cảnh sát Đô thành London tịch thu pho tượng có nguồn gốc Việt Nam trong một vụ án buôn bán cổ vật bất hợp pháp và đề xuất khả năng trao trả.

Sau quá trình phối hợp giữa nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân, tượng được đưa về Việt Nam năm 2024 và lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Kết quả thẩm định xác định đây là tượng Nữ thần Durga bốn tay, cao tổng thể 191 cm, nặng 101 kg, niên đại khoảng thế kỷ VII, thuộc phong cách nghệ thuật Champa.

Sau khi hồi hương, hiện vật không nằm yên trong kho mà được giới thiệu tới công chúng trong trưng bày chuyên đề “Báu vật Champa - Dấu ấn thời gian.” Năm 2025, tượng Nữ thần Durga được công nhận là bảo vật quốc gia.

Ba trường hợp, ba con đường khác nhau, có hiện vật trở về sau khi được cơ quan chức năng nước ngoài thu giữ trong các vụ việc liên quan đến buôn bán trái phép; có hiện vật được hồi hương bằng con đường đàm phán, chuyển giao và huy động nguồn lực; cũng có những cổ vật trở về thông qua đóng góp, hiến tặng hoặc sự tham gia của các nhà sưu tập.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia từng ghi nhận nhiều trường hợp như vậy trong lịch sử hồi hương cổ vật. Năm 1978, chuông chùa Ngũ Hộ được đưa từ Tokyo về Bắc Ninh nhờ sự quyên góp của một luật sư người Nhật và người dân địa phương.

Tượng Nữ thần Durga 4 tay, niên đại vào thế kỷ VII có nguồn gốc Việt Nam, thuộc phong cách nghệ thuật văn hóa Champa. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)

Những năm sau đó, xe của Hoàng Thái hậu Từ Minh, mũ quan triều Nguyễn, áo Nhật Bình cùng nhiều cổ vật khác cũng tìm được đường trở về bằng những phương thức khác nhau.

Những câu chuyện ấy cho thấy hồi hương di sản không phải việc mới. Điểm mới nằm ở yêu cầu phải làm cho việc này chủ động hơn, có phương án từ trước thay vì thụ động tiếp nhận và xử lý từng trường hợp khi cơ hội xuất hiện.

Thượng tọa Thích Đức Thiện, đại biểu Quốc hội, từng đề nghị cần có chiến lược hồi hương cổ vật và cho rằng những cổ vật quý hiếm của Việt Nam đang ở nước ngoài cần được đưa về bởi chúng có giá trị như chứng tích lịch sử, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và chủ quyền quốc gia.

Theo ông, muốn làm được điều đó cần có những cơ chế đủ mạnh để khuyến khích tổ chức, cá nhân phát hiện, mua, hiến tặng và chuyển giao cổ vật có nguồn gốc Việt Nam về nước.

“Mở đường” chủ động cho di sản

Trong dòng chảy lịch sử, chiến tranh, biến động xã hội, giao thương và nhiều nguyên nhân khác đã khiến một bộ phận di sản, cổ vật, tác phẩm nghệ thuật của Việt Nam rời khỏi đất nước. Một phần hiện nay nằm trong các bảo tàng, một phần thuộc các bộ sưu tập tư nhân và cũng có những hiện vật chỉ xuất hiện khi được đưa lên thị trường nghệ thuật quốc tế.

Vì vậy, điều khó nhất không chỉ là Việt Nam có muốn đưa di sản trở về hay không, mà là làm sao biết những gì đang ở đâu, hiện vật nào cần ưu tiên và khi cơ hội xuất hiện thì có thể hành động nhanh thế nào.

Đây chính là khoảng trống mà Đề án đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng hướng tới.

Chiếc xe kéo của Hoàng Thái Hậu Từ Minh, mẹ của vua Thành Thái (1889 - 1907) đã được Việt Nam đấu giá thành công và đưa về trưng bày ở Cung Diên Thọ (Khu di tích Đại Nội Huế) phục vụ du khách tham quan sau 108 năm lưu lạc trên đất Pháp. (Ảnh: Trần Thanh Giang/TTXVN)

Trong khuôn khổ cuộc họp Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập vừa diễn ra tại Hà Nội, Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương nhấn mạnh: “Việc xây dựng Đề án đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách nhằm tạo ra các cơ chế đồng bộ để thống kê, nghiên cứu, xác định những di vật, cổ vật quý hiếm của Việt Nam đang ở đâu, đồng thời triển khai các hình thức phù hợp để vận động, đàm phán, tiếp nhận và đưa những tài sản văn hóa có giá trị đó trở về Việt Nam.”

Điểm đáng chú ý của cách tiếp cận này là đưa việc hồi hương về một quy trình có sự chuẩn bị từ trước: thống kê, nghiên cứu, xác định giá trị và nguồn gốc, xây dựng thứ tự ưu tiên, đồng thời tính toán phương thức đưa hiện vật về nước.

Câu chuyện “Hoàng đế chi bảo” cho thấy rõ điều này. Hồ sơ hồi hương chiếc ấn đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, từ xác minh tính xác thực, nghiên cứu tư liệu đến xử lý các vấn đề pháp lý và tài chính. Nguồn lực xã hội hóa cũng được huy động trong quá trình thực hiện.

Bởi vậy, cơ chế chủ động về nguồn lực sẽ quyết định phần lớn khả năng nắm bắt cơ hội. Nếu một cổ vật đặc biệt quý hiếm xuất hiện trên thị trường quốc tế, việc xác minh nguồn gốc, thẩm định giá trị, chuẩn bị phương án pháp lý và tài chính không thể bắt đầu từ con số không.

Đây cũng là lý do câu chuyện hồi hương không chỉ thuộc về ngành văn hóa, mà còn liên quan đến ngoại giao, pháp luật, tài chính, thực thi pháp luật, bảo tàng, nghiên cứu và sự chung tay của cả xã hội.


Thứ trưởng Bộ VHTTDL Tạ Quang Đông phát biểu tại buổi lễ bàn giao Trống đồng Đông Sơn cho Việt Nam vừa được tổ chức trọng thể tại trụ sở Bộ Văn hóa Cộng hòa Pháp. (Nguồn ảnh: Bộ VHTTDL)

Việc Việt Nam tham gia Công ước UNESCO năm 1970 cũng tạo khuôn khổ quan trọng cho hợp tác quốc tế trong ngăn chặn việc di chuyển, xuất nhập khẩu và chuyển quyền sở hữu bất hợp pháp đối với tài sản văn hóa, cũng như thúc đẩy các cơ chế trao trả, đàm phán song phương đối với những trường hợp phù hợp.

Nhưng nếu chỉ nhìn Đề án như một công cụ để “đưa đồ quý về nước” thì vẫn chưa đủ. Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị đặt văn hóa ở vị trí nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng và sức mạnh mềm của quốc gia.

Trong định hướng đó, giá trị của mỗi cuộc hồi hương không dừng ở việc hoàn thiện một bộ sưu tập hay gia tăng số lượng hiện vật trong bảo tàng. Quan trọng hơn là biến những hiện vật ấy thành nguồn lực để nghiên cứu, giáo dục, đối thoại văn hóa và củng cố khả năng Việt Nam nói lên câu chuyện của chính mình.

Và đây có lẽ là chặng đường cần được tính toán ngay từ khi bắt đầu hồi hương. Một cổ vật có thể đã đi qua hàng nghìn cây số để trở về, nhưng rồi chỉ nằm yên trong kho, ít được nghiên cứu, ít được hiện diện trước công chúng và không được kể lại câu chuyện của mình, thì hành trình hồi hương có ý nghĩa gì?

Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng Đề án trong thời điểm chiếc trống Đông Sơn vừa trở về vì thế càng cho thấy tính thời sự của câu chuyện. Những cuộc hồi hương đã diễn ra cung cấp kinh nghiệm thực tiễn; những khó khăn từng gặp cho thấy “điểm nghẽn” cần tháo gỡ; còn những hiện vật vẫn đang “lưu lạc” ở nước ngoài đặt ra nhu cầu phải chuẩn bị trước thay vì chờ cơ hội đến rồi mới bắt đầu.

Các di sản tư liệu của Việt Nam thu hút sự quan tâm của các chuyên gia quốc tế tại Không gian trưng bày của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. (Ảnh: Mai Mai/Vietnam+)

“Việc hồi hương tài sản văn hóa là một nhiệm vụ có ý nghĩa thiết thực, đồng thời đặt ra yêu cầu phải có cơ chế, chính sách và phương thức triển khai đồng bộ, lâu dài, phù hợp với điều kiện thực tiễn cũng như các quy định của pháp luật quốc tế,” Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương khẳng định.

Trong khi đó, các chuyên gia cho rằng, một chính sách hồi hương hiệu quả sẽ không chỉ giúp di sản tìm được đường về. Nó phải giúp Việt Nam biết mình đang tìm gì, vì sao cần đưa về, bằng nguồn lực nào và sau khi trở về sẽ làm gì với những giá trị ấy.

Bởi vậy, “mở đường” cho di sản không chỉ là mở một con đường trở về, đó còn là mở đường để những hiện vật từng rời khỏi Việt Nam được nghiên cứu sâu hơn, được bảo quản tốt hơn, được giới thiệu rộng hơn và trở lại đời sống văn hóa. Khi ấy, mỗi cuộc hồi hương không chỉ khép lại một hành trình thất lạc, mà còn mở thêm một cách để Việt Nam hiểu và kể câu chuyện của chính mình./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục