Lần đầu tiên sau hơn một thập kỷ tổ chức, Cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học tỉnh Nghệ An năm 2026 đã có dấu ấn đặc biệt bởi sự xuất hiện của một nữ sinh đến từ nước bạn Lào trên bục nhận giải thưởng.
Không chỉ dừng lại ở một dự án khoa học, công trình “Hệ sinh thái hòa nhập Việt-Lào” còn là nhịp cầu tri thức, hiện thực hóa tinh thần đoàn kết và tình hữu nghị giữa thế hệ trẻ hai quốc gia trong thời đại hội nhập giáo dục quốc tế.
"V-L Ecosystem": Khi khoa học kết tinh từ tình bạn
Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học Phổ thông số 2 Nghệ An hiện là đơn vị giáo dục duy nhất tại địa phương tiếp nhận lưu học sinh Lào sang học bậc phổ thông. Sau 3 năm triển khai, dù đã dần quen với nhịp sống mới, song thực tế cho thấy các lưu học sinh vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản.
Khó khăn lớn nhất nằm ở ngôn ngữ, khiến việc tiếp thu kiến thức chuyên môn trở nên nặng nề và hạn chế khả năng giao tiếp xã hội. Bên cạnh đó, sự khác biệt về phong tục, lối sống và môi trường sinh hoạt nội trú dễ tạo ra hội chứng “sốc văn hóa,” dẫn đến tâm lý tự ti, khép kín. Trong khi đó, các hoạt động hỗ trợ trước đây thường chỉ mang tính sự kiện, rời rạc, thiếu đi một hệ thống bền vững để các em thực sự hòa nhập.
Từ thực tiễn đó, Bounsana Thidasavanh (lớp 11K) - một nữ sinh đến từ Lào và người bạn đồng hành Hồ Giang Sơn Đông (lớp 11A) đã cùng nhau xây dựng dự án: “Xây dựng và vận hành mô hình Hệ sinh thái hòa nhập Việt-Lào (V-L Ecosystem).”
Dự án này mang ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ khi được đồng sáng lập bởi một học sinh Việt và một học sinh Lào. Điều này giúp các giải pháp không chỉ mang tính hàn lâm mà còn bám sát tâm lý, nhu cầu thực tế của người trong cuộc.
Theo em Hồ Giang Sơn Đông, dự án không hướng tới sự hỗ trợ một chiều mà tạo ra một “hệ sinh thái” nơi sự tương tác diễn ra tự nhiên, liên tục. Tại đây, mỗi cá nhân đều là một nhân tố đóng góp vào sự phát triển chung, giúp lưu học sinh Lào không chỉ thích nghi nhanh mà còn tự tin khẳng định bản sắc cá nhân.
Mô hình được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý luận khoa học vững chắc. Đó là Thuyết thích nghi văn hóa, khẳng định hòa nhập là quá trình điều chỉnh tâm lý và hành vi với sự hỗ trợ từ cộng đồng bản địa. Lý thuyết hỗ trợ đồng đẳng đã nhấn mạnh vai trò chia sẻ kinh nghiệm tự nhiên giữa bạn bè cùng trang lứa. Mô hình hệ sinh thái sẽ tác động đồng bộ vào ba tầng: cá nhân, nhóm bạn và tổ chức nhà trường.
Điểm sáng của dự án nằm ở tính ứng dụng thực tiễn cao với chi phí thấp. Một trong những ý tưởng nổi bật là “Trạm tri thức QR” cho phép học sinh quét mã để ôn tập bài học qua sơ đồ tư duy và video ngắn do chính các bạn học giỏi thực hiện.
Đặc biệt, mô hình “Buddy System 1+1” đã tạo nên sự “giao lưu ngược” đầy thú vị. Trong khi học sinh Việt Nam giúp bạn Lào học Tiếng Việt và giải bài tập, các lưu học sinh Lào lại dạy lại những điệu múa truyền thống và câu chào hỏi, tạo nên sự gắn kết tự nhiên, bền chặt.
Bên cạnh đó, cuốn Sổ tay song ngữ bỏ túi với những từ vựng “sinh tồn” trong môi trường nội trú đã trở thành vật bất ly thân, giúp các em tra cứu nhanh chóng mọi lúc mọi nơi.
Minh chứng sống động của tình đoàn kết Việt-Lào
Sự thành công của dự án không thể thiếu vai trò của cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Thu Hà. Cô chia sẻ rằng cô chỉ là người gợi ý khung sườn, còn chính các em đã trực tiếp khảo sát, biên soạn và vẽ minh họa bằng cả hai thứ tiếng.
Dù là lần đầu tham dự một sân chơi khoa học lớn, Bounsana Thidasavanh đã gây ấn tượng mạnh với Ban giám khảo bằng khả năng thuyết trình song ngữ lưu loát và sự tự tin. Kết quả giải Ba chung cuộc không chỉ là phần thưởng cho trí tuệ mà còn là sự ghi nhận cho nỗ lực vượt qua rào cản ngôn ngữ của nữ sinh xứ Hoa Chămpa.
Bounsana Thidasavanh chia sẻ đầy xúc động: “Với em, đây không chỉ là một cuộc thi, mà là cơ hội để kể câu chuyện của chính mình. Em tin rằng dự án sẽ trở thành cẩm nang giúp các bạn Lào tự tin hơn khi học tập tại Việt Nam.”
Về phía nhà trường, Dự án không chỉ dạy chữ mà còn dạy cách sống, giúp học sinh Lào xóa bỏ rào cản mặc cảm để tự tin hòa nhập vào đại gia đình nội trú; tạo ra không gian giao lưu tự nhiên, nơi Tiếng Việt và văn hóa Việt trở nên tự nhiên, gần gũi, giúp lưu học sinh Lào phát triển ngôn ngữ vượt bậc.
Thầy Hồ Quốc Việt, Hiệu trưởng Phổ thông dân tộc nội trú Trung học Phổ thông số 2 Nghệ An cho biết: “Là mô hình trường nội trú - hệ sinh thái thu nhỏ, chúng tôi quản lý các em không chỉ dừng lại ở kỷ luật mà tạo dựng sự thấu hiểu và sẻ chia giữa các dân tộc anh em. Dự án giúp nhà trường khai thác tối đa cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên để phục vụ mục tiêu hội nhập quốc tế, khẳng định vị thế của nhà trường, là điểm sáng trong công tác đào tạo lưu học sinh Lào cho nước bạn. Mỗi học sinh Lào tại Nghệ An là một "sứ giả" tương lai. Dự án này chính là cách bền vững nhất để vun đắp tình đoàn kết đặc biệt Việt-Lào từ gốc rễ.”
Đánh giá về ý nghĩa của dự án này, ông Nguyễn Văn Khoa, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An khẳng định, đây là một điểm sáng hiếm có trong phong trào nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh tỉnh năm 2026. Theo Ban Tổ chức cuộc thi, dự án của Bounsana Thidasavanh và Hồ Giang Sơn Đông không chỉ đáp ứng các tiêu chí về sự mới mẻ, tính sáng tạo mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Lãnh đạo ngành Giáo dục địa phương nhấn mạnh, mô hình “Hệ sinh thái hòa nhập Việt-Lào” đã chạm đúng vào một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh là nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ lưu học sinh Lào diện thỏa thuận hợp tác. Việc học sinh tự xây dựng được một hệ thống hỗ trợ đồng đẳng bài bản như “Buddy System 1+1” hay “Trạm tri thức QR” đã cho thấy tư duy hội nhập và tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với tình hữu nghị quốc gia.
“Đây không chỉ là một dự án đoạt giải Khoa học kỹ thuật mà còn là một mô hình thực tiễn có khả năng nhân rộng cao tại các cơ sở giáo dục có lưu học sinh Lào đang theo học. Thành công của dự án một lần nữa khẳng định chủ trương đúng đắn của tỉnh Nghệ An trong việc tạo điều kiện tốt nhất để lưu học sinh Lào không chỉ học tập văn hóa mà còn được khẳng định năng lực cá nhân trong các sân chơi trí tuệ đỉnh cao,” ông Nguyễn Văn Khoa, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An chia sẻ.
Dự án “V-L Ecosystem” đã chứng minh rằng: Khi có sự thấu hiểu và sẻ chia, mọi rào cản về ngôn ngữ hay văn hóa đều có thể xóa bỏ. Đây chính là một minh chứng sống động, viết tiếp chương mới cho tình hữu nghị đặc biệt, sự hợp tác giáo dục bền vững giữa hai dân tộc Việt-Lào trong thời đại mới./.