Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua cho thấy, bên cạnh đại đa số cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm các quy định của Đảng, vẫn còn những biểu hiện "nói đúng nhưng làm không đúng," phát ngôn thiếu chuẩn mực, né tránh trách nhiệm hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phục vụ lợi ích cá nhân.
Quy định số 207-QĐ/TW vừa được ban hành đưa ra quy định 19 điều đảng viên không được làm. Điều 1 nêu rõ: Nghiêm cấm đảng viên nói, viết, làm trái hoặc không thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; làm những việc mà pháp luật không cho phép.
Theo các chuyên gia, thực tế đang đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nâng cao bản lĩnh chính trị, siết chặt kỷ luật, kiểm soát quyền lực và phát huy trách nhiệm nêu gương; Nói đi đôi với làm được coi là thước đo bản lĩnh và trách nhiệm của người đảng viên.
Thống nhất giữa lời nói và hành động
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hà, Trưởng Khoa Khoa học liên ngành-Ngoại ngữ-Tin học, Học viện Hành chính và Quản trị công cho rằng, đảng viên trước hết phải là người thống nhất giữa nhận thức, lời nói và hành động, lấy việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước làm chuẩn mực. Nếu nguyên tắc này bị vi phạm thì không chỉ ảnh hưởng đến kỷ luật của tổ chức đảng mà còn tác động trực tiếp đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và hệ thống chính trị.
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hà phân tích, qua thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua, có thể thấy những biểu hiện vi phạm quy định này diễn ra ở nhiều cấp độ: Không thống nhất giữa lời nói và hành động; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát ngôn thiếu chuẩn mực, nhất là trên môi trường mạng.
Một số cán bộ, đảng viên chia sẻ, bình luận hoặc phát tán những thông tin chưa được kiểm chứng; phát ngôn mang tính chủ quan, cực đoan hoặc trái với quan điểm chính thống của Đảng.
Có trường hợp sử dụng mạng xã hội để bày tỏ quan điểm cá nhân thiếu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và cơ quan nhà nước.
Biểu hiện "trên nóng, dưới lạnh" cũng là thực trạng cần lưu ý. Trung ương ban hành chủ trương rất quyết liệt, nhưng ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị, việc tổ chức thực hiện thiếu quyết tâm, thiếu sáng tạo, thậm chí có biểu hiện né tránh trách nhiệm, sợ sai, sợ chịu trách nhiệm.
Bên cạnh đó, việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước cũng đang diễn ra. Đây là dạng vi phạm có tính chất nghiêm trọng nhất vì thường gắn với tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, làm thất thoát tài sản công và gây tổn hại lớn đến uy tín của Đảng.
Theo Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hà, nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ cả yếu tố chủ quan và khách quan. Trước hết là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến giảm sút ý thức tu dưỡng, rèn luyện và ý thức chấp hành kỷ luật của Đảng. Lợi ích cá nhân lấn át lợi ích của Đảng và nhân dân.
Khi chủ nghĩa cá nhân phát triển thì người đảng viên dễ rơi vào tình trạng lựa chọn những gì có lợi cho mình thay vì những gì đúng với nguyên tắc của Đảng.
Có thể nói, tình trạng "phát ngôn một đằng, hành động một nẻo" thực chất là biểu hiện của sự không thống nhất giữa tư tưởng, đạo đức và trách nhiệm công vụ. Điều này đi ngược lại yêu cầu nêu gương của cán bộ, đảng viên và là một trong những nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân nếu không được chấn chỉnh kịp thời.
Đồng tình với nhận định này, Đại tá, Tiến sỹ Trịnh Quốc Việt, Phó Trưởng ban Nghiên cứu lý luận bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nền quốc phòng, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự (Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng) cho rằng, thời gian qua, một số đảng viên còn có biểu hiện "nói không đi đôi với làm," "nói nhiều, làm ít," khi quán triệt nghị quyết thì thể hiện sự đồng tình, nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện lại thiếu quyết liệt, né tránh trách nhiệm, thực hiện cầm chừng, hoặc lựa chọn thực hiện theo hướng có lợi cho cá nhân, đơn vị mình. Những vụ việc như ở Bộ Công thương, trường PTTH chuyên Tuyên Quang… cho thấy rõ điều này.
Theo Đại tá, Tiến sỹ Trịnh Quốc Việt, nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ cả yếu tố chủ quan và khách quan. Về chủ quan, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao; còn biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, vụ lợi, coi nhẹ trách nhiệm nêu gương.
Một số người tuy nhận thức đúng nhưng thiếu quyết tâm thực hiện, ngại va chạm, ngại đổi mới, sợ ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cục bộ.
Về khách quan, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số tổ chức đảng chưa hiệu quả; việc kiểm tra, giám sát có lúc, có nơi chưa thường xuyên, chưa kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm; cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực còn những kẽ hở cần tiếp tục hoàn thiện.
Bên cạnh đó, tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và môi trường truyền thông số cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với giữ gìn kỷ luật phát ngôn và tính thống nhất giữa lời nói với hành động của cán bộ, đảng viên.
Tiến sỹ Trương Quốc Việt, Phó Trưởng khoa Hành chính học (Học viện Hành chính và Quản trị công) cho rằng, nguyên nhân của tình trạng vi phạm cần được nhìn nhận trên hai bình diện gắn kết chặt chẽ với nhau, không tách rời.
Trước hết, ở bình diện chủ thể, đó là sự suy giảm tính đảng, trách nhiệm nêu gương và ý thức thượng tôn kỷ luật của cá nhân cán bộ, đảng viên. Khi bản lĩnh chính trị, tư tưởng, đạo đức suy thoái, con người thường có xu hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm, dẫn đến các hành vi vi phạm khi có cơ hội.
Nhưng ở bình diện thể chế, nếu cơ chế kiểm soát quyền lực chưa đủ chặt: giám sát phát ngôn và hành động của người có chức vụ chưa được thực hiện thường xuyên, văn hóa tổ chức còn nể nang, né tránh, thậm chí bao che lẫn nhau trong nội bộ cấp ủy, cơ quan, đơn vị có thể làm vô hiệu hóa tính răn đe của kỷ luật tổ chức.
Theo Tiến sỹ Trương Quốc Việt, hai bình diện này không độc lập. Đạo đức cá nhân suy thoái tìm được điều kiện tồn tại và lan rộng chính ở những nơi cơ chế kiểm soát quyền lực lỏng lẻo; ngược lại, cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ là điều kiện định hình hành vi, uốn nắn lệch chuẩn của các cá nhân trong tổ chức từ sớm, từ xa.
Khi đảng viên đặt mình bên ngoài chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự giám sát của tổ chức, của nhân dân, nguy cơ "nói một đằng, làm một nẻo" sẽ xuất hiện, bào mòn niềm tin chính trị của xã hội đối với Đảng.
Người đứng đầu cấp ủy không né tránh và bao che cấp dưới
Để Quy định số 207-QĐ/TW thực sự đi vào cuộc sống, Đại tá, Tiến sỹ Trịnh Quốc Việt cho rằng, cần đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là người đứng đầu.
Thực tiễn cho thấy ở đâu người đứng đầu gương mẫu trong lời nói và hành động, ở đó kỷ luật, kỷ cương được giữ vững. Ngược lại, nếu người đứng đầu nói không đi đôi với làm, hoặc buông lỏng công tác lãnh đạo, quản lý thì rất dễ dẫn đến tình trạng cấp dưới thiếu nghiêm túc trong thực hiện quy định.
"Nếu cơ quan, đơn vị mình quản lý để xảy ra tình trạng bao che, xử lý hình thức hoặc kéo dài việc xử lý, thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm liên đới," Đại tá, Tiến sỹ Trịnh Quốc Việt nhấn mạnh.
Mặt khác, cần tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm theo nguyên tắc "không có vùng cấm, không có ngoại lệ."
Theo đó, công tác kiểm tra cần kết hợp giữa giám sát thường xuyên với giám sát chuyên đề, chủ động phát hiện từ sớm, từ xa những biểu hiện lệch chuẩn trong phát ngôn và thực thi nhiệm vụ. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác hiệu quả dữ liệu số để hỗ trợ phát hiện các hành vi vi phạm trên không gian mạng.
Đồng tình với ý kiến, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, khi người đứng đầu nói đi đôi với làm, dám chịu trách nhiệm, dám nhận khuyết điểm thì sẽ tạo ra sức lan tỏa rất lớn trong toàn hệ thống. Ngược lại, nếu người đứng đầu vi phạm hoặc dung túng cho vi phạm thì rất khó xây dựng được kỷ luật nghiêm minh.
Theo bà Hà, cần hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực, chuyển mạnh từ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm sang giám sát thường xuyên, giám sát từ sớm, từ xa.
Việc ứng dụng công nghệ số, cơ sở dữ liệu dùng chung, công khai quy trình giải quyết công việc sẽ góp phần giảm đáng kể nguy cơ vi phạm. Đồng thời, xử lý nghiêm minh, công khai và kịp thời các hành vi vi phạm.
Kỷ luật của Đảng chỉ thực sự có sức răn đe khi mọi vi phạm đều được xử lý công bằng, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, không có sự khác biệt giữa cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu.
Tiến sỹ Trương Quốc Việt cho rằng, Quy định số 207-QĐ/TW chỉ phát huy hiệu lực khi đảng viên coi kỷ luật của Đảng là năng lực tự kiểm soát quyền lực của chính mình. Đó là chuẩn mực bảo vệ uy tín của Đảng và danh dự người đảng viên, chứ không dừng lại ở việc ghi nhớ các điều cấm.
Trên nền nhận thức đó, cần xây dựng môi trường liêm chính, minh bạch, đánh giá cán bộ bằng kết quả, sản phẩm và dữ liệu kiểm chứng được, thay vì cảm tính hay quan hệ.
Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải nêu gương, không né tránh, không bao che cấp dưới; đồng thời chịu trách nhiệm liên đới khi để xảy ra vi phạm trong phạm vi quản lý mà không phát hiện, không xử lý.
Bên cạnh đó là cơ chế kiểm soát quyền lực. Cần cụ thể hóa trách nhiệm phát hiện, xử lý ngay tại chính điều khoản của Quy định 207. Điều 11 đã định danh rõ hành vi "né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, nói không đi đôi với làm," "biết mà không báo cáo, không xử lý hoặc không chỉ đạo xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực" là điều cấm cụ thể, không còn là khái niệm chung chung.
Điều 17 cấm can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra để làm sai lệch, bao che, tiếp tay cho vi phạm. Việc thực thi nghiêm hai điều khoản này, với chế tài rõ ràng, xử lý không có vùng cấm, không có ngoại lệ, chính là cơ chế kiểm soát quyền lực mà thực tiễn đang thiếu.
Đồng thời, nâng cao tính độc lập và thẩm tra chủ động của hệ thống Ủy ban Kiểm tra và phát huy giám sát của nhân dân. Nhân dân cũng là một chủ thể giám sát quyền lực trong khuôn khổ pháp luật, chứ không chỉ là kênh cung cấp thông tin.
Mỗi đảng viên, nhất là người có chức vụ, phải chịu sự đánh giá thường xuyên từ nhân dân qua chất lượng phục vụ, thái độ công vụ, mức độ liêm chính và việc thực hiện cam kết chính trị.
Việc vận hành đồng bộ các chiều cạnh trên và chịu sự kiểm soát trực tiếp từ trách nhiệm giải trình trước nhân dân, kỷ luật Đảng sẽ chuyển hóa từ chấp hành văn bản thành sức mạnh tự giác, tạo dựng nền tảng xã hội bền vững cho sự phát triển của đất nước…/.