Xuất khẩu gạo bốn tháng đạt 1,57 tỷ USD: Người dân, doanh nghiệp vẫn gặp khó

Việt Nam đã xuất khẩu 3,3 triệu tấn gạo với giá trị 1,57 tỷ USD trong bốn tháng qua. Tuy nhiên, mức xuất khẩu này vẫn giảm 2,3% về khối lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam đã xuất khẩu 3,3 triệu tấn gạo với giá trị 1,57 tỷ USD trong bốn tháng kể từ đầu năm 2026. Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Trong bốn tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu 3,3 triệu tấn gạo với giá trị 1,57 tỷ USD. Tuy nhiên, mức xuất khẩu này vẫn giảm 2,3% về khối lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, giá lúa trong nước vừa trải qua nhịp biến động mạnh, từ mức giảm sâu khi vào vụ thu hoạch đến tăng nhanh trở lại chỉ sau thời gian ngắn. Thực trạng này khiến cả nông dân và doanh nghiệp đều gặp khó.

Đã xuất khẩu được 3,3 triệu tấn gạo

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ước đến cuối tháng 4/2026, diện tích gieo cấy lúa Đông Xuân của cả nước đạt khoảng 2,93 triệu ha; diện tích thu hoạch đạt 1,67 triệu ha; sản lượng ước đạt 11,5 triệu tấn.

Diện tích gieo cấy lúa Hè Thu cả nước ước đạt 355,5 nghìn ha.

Về xuất khẩu, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, khối lượng xuất khẩu gạo tháng 4/2026 ước đạt 1,1 triệu tấn với giá trị đạt 492,7 triệu USD. Qua đó nâng tổng khối lượng gạo xuất khẩu trong bốn tháng kể từ đầu năm 2026 đạt 3,3 triệu tấn với giá trị 1,57 tỷ USD. Tuy nhiên, mức xuất khẩu này giảm 2,3% về khối lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Riêng giá gạo xuất khẩu bình quân trong bốn tháng kể từ đầu năm 2026 ước đạt 468,4 USD/tấn (giảm 9% so với cùng kỳ năm 2025).

Trong khi đó, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, từ ngày 21-29/4, giá gạo tấm 5% tấm của Ấn Độ ghi nhận ở mức khoảng 353 USD/tấn, so với tuần trước và so với tháng trước tăng 9 USD/tấn, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước (năm 2025) lại giảm 27 USD/tấn.

Tương tự, thị trường gạo trắng Basmati tuần qua cũng có xu hướng trầm lắng do nhu cầu thấp và đồng nội tệ suy yếu. Trong đó, giá gạo đồ 5% tấm tiếp tục giảm khi các thương nhân tạm ngừng xuất khẩu sang thị trường Benin (Tây Phi) do thay đổi chính sách nhập khẩu mới, làm giảm mạnh nhu cầu mua trên thị trường nội địa.

Giá gạo tấm 5% tấm của Thái Lan ghi nhận ở mức khoảng 386 USD/tấn, giảm 2 USD/tấn so với tuần trước và tăng 23 USD/tấn so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ năm trước giảm 14 USD/tấn. Đáng chú ý, một số nhà xuất khẩu tạm ngưng chào giá do mức giá hiện chưa ổn định và rất khó xác định tại thời điểm giao hàng. Đối với thị trường gạo Hom Mali, mặc dù có xu hướng tăng do nhu cầu ổn định từ Mỹ, nhưng nguồn cung cũng hạn chế.

Xét về thị trường, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với 48,5%. Trung Quốc và Gana là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 15,6% và 7%.

So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam trong các tháng đầu năm 2026 sang Philippin tăng 6,7%; Trung Quốc tăng 44,4%.

Ở chiều ngược lại, dù thị trường Gana chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam, tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước đã giảm 28,7%. Tương tự, Bờ Biển Ngà cũng giảm 59,6% nhập gạo của Việt Nam.

Như vậy, trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất hiện nay, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất ở thị trường Trung Quốc với mức tăng 44,4%; và giảm mạnh nhất ở thị trường Bờ Biển Ngà với mức giảm 59,6%.

Cần cách tiếp cận mang tính chiến lược

Về tình hình giá lúa trong nước, ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, cho biết trong vụ vừa qua, giá lúa có lúc giảm xuống còn khoảng 5.000 đồng/kg. Mức giá này khiến nhiều nông dân không muốn bán.

Thậm chí, có thời điểm, lúa chín trên đồng nhưng giao dịch cũng khó do giá xuống quá thấp. Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau, giá lúa lại tăng rất nhanh, trong khi lượng hàng có thể mua lại không còn nhiều.

Theo nhận định của Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, nguyên nhân dẫn tới diễn biến đảo chiều trên có liên quan lớn đến thị trường Philippines - nơi chiếm trên 40% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

Lúa gạo. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Đơn cử như năm 2025, Philippines từng tuyên bố ngừng nhập khẩu trong 4 tháng cuối năm, khiến Việt Nam tồn kho khoảng hơn 1 triệu tấn. Tuy nhiên, sau giai đoạn hạn chế, nước này đã “mở mua” khoảng 300.000 tấn gạo.

Ông Nam cho rằng động thái trên khiến doanh nghiệp Việt Nam lo ngại “đầu ra bị thu hẹp,” bởi nếu thị trường chiếm gần một nửa thị phần xuất khẩu gạo chỉ nhập lượng nhỏ, sẽ khiến việc tiêu thụ ở trong nước gặp khó và dẫn đến tồn kho. Tuy nhiên, thực tế sau đó đã “đảo chiều” khi nhu cầu từ Philippines vẫn lớn hơn con số ban đầu, khiến thị trường thay đổi nhanh.

Sự “đảo chiều” trên khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào thế “tiến thoái lưỡng nan.” Theo đó, khi vào vụ lo ngại thiếu hợp đồng và chịu áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua, nhưng khi giá bị đẩy lên, lượng tồn kho trước đó lại khó bán, khiến chi phí tăng và biên lợi nhuận bị bào mòn.

Hệ quả mà ông Nam chia sẻ là hầu hết doanh nghiệp đã lỗ nặng, nhiều đơn vị chưa biết việc giao hàng tiếp theo sẽ ra sao.

Thực tế trên ảnh hưởng đến việc thu mua, tiêu thụ lúa từ nông dân, trong khi nông dân thường không đủ điều kiện sấy, trữ lúa lâu. Khi giá thấp, người trồng lúa khó chủ động chờ giá. Đến lúc giá tăng, phần lớn nguồn hàng đã qua tay các khâu trung gian hoặc không còn dễ mua trong dân…

Trước thực trạng trên, tại Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng bàn biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức mới đây, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng vấn đề cốt lõi là cần phải giúp nông dân giữ được lúa lâu hơn, cũng như cần giải được bài toán sấy và kho trữ lúa cho nông dân.

Vì thế, ông Nam đề xuất có thể cho nông dân vay tiền, dùng lúa làm tài sản bảo đảm, hoặc cho gửi lúa tại kho doanh nghiệp, các đơn vị xuất khẩu.

Về phía cơ quan quản lý, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết đã trực tiếp làm việc với phía Philippines trong chuyến công tác gần đây và nhận thấy nhu cầu nhập khẩu gạo của thị trường này vẫn lớn. Đồng thời, hai bên đang thúc đẩy các khuôn khổ hợp tác dài hạn.

Theo đó, phía Philippines dự kiến thành lập đoàn công tác sang Việt Nam trong thời gian tới để làm việc về hợp tác chiến lược trong lĩnh vực lúa gạo. Điều này cho thấy Philippines vẫn cần nguồn cung gạo từ Việt Nam, nhất là trong bối cảnh chi phí sản xuất nội địa cao, không đủ đáp ứng tiêu dùng.

Tuy vậy, ông Hưng lưu ý vấn đề đặt ra không chỉ là nhu cầu thị trường, mà là cách tiếp cận mang tính chiến lược. Do đó phải có cách để “đi vào các thỏa thuận dài hạn,” bởi nếu không có các cam kết ổn định, việc điều hành xuất khẩu sẽ tiếp tục bị động trước những thay đổi chính sách từ đối tác.

Ở thị trường trong nước, cơ quan quản lý đang xem xét các đề xuất hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, trong đó có phương án cho nông dân ký gửi lúa hoặc tăng khả năng dự trữ, để nâng cao khả năng điều tiết thị trường.

Đối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông Hưng nhấn mạnh cơ quan này cam kết sẽ tiếp tục rà soát chính sách liên quan đến xuất khẩu, liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, nhằm xử lý các điểm nghẽn hiện nay./.

Giá gạo xuất khẩu ngày 6/5/2026:

Thị trường giá gạo xuất khẩu ngày 6/5/2026 ghi nhận sự tăng nhẹ ở một số loại gạo nguyên liệu, đặc biệt là gạo thơm và gạo Jasmine. Động lực tăng giá đến từ nhu cầu cao của thị trường quốc tế, đặc biệt là từ Philippines, nơi được dự báo sẽ đẩy mạnh nhập khẩu trong năm nay do sản lượng giảm khi nông dân phải đối mặt với giá nhiên liệu và phân bón tăng cao, cộng thêm tác động của hiện tượng El Niño.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo thơm 5% tấm Việt Nam ở mức 490 - 500 USD/tấn; gạo Jasmine Việt Nam 465 - 469 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm Việt Nam 376 - 380 USD/tấn; gạo 100% tấm Việt Nam 334 - 338 USD/tấn. Giá các loại gạo này được nhận định ổn định.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục