Ngày 23/10, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ.
Sự kiện tổ chức dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đồng chủ trì phiên trao đổi, giải đáp.
83 công nghệ chào bán mới có 1 nhu cầu tìm mua
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, các cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được sửa đổi theo hướng tăng quyền chủ động, chia sẻ rủi ro và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu. Những thay đổi này mở thêm điều kiện để viện, trường và doanh nghiệp cùng giải quyết bài toán thực tiễn, đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở tổ chức nhiệm vụ theo mục tiêu, kết quả và nhu cầu ứng dụng. Nhiệm vụ phát triển công nghệ phải có bên cam kết tiếp nhận, ứng dụng, thương mại hóa hoặc tham gia thực hiện theo quy định. Với phần kinh phí khoán chi, tổ chức, cá nhân chủ trì được chủ động lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Nhiệm vụ không đạt mục tiêu nhưng đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định không phải hoàn trả phần kinh phí đã sử dụng đúng mục tiêu, phạm vi.
Cơ chế giao quyền đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cũng được đổi mới theo hướng tự động giao quyền cho tổ chức chủ trì theo từng nhóm chủ thể và các ngoại lệ luật định; mở rộng quyền quyết định hình thức, phương án, giá thương mại hóa và phân chia lợi ích.
Doanh nghiệp được sử dụng quỹ phát triển khoa học công nghệ để đặt hàng, thuê nghiên cứu, tiếp nhận công nghệ, hợp tác với viện, trường và vận hành phòng thí nghiệm chung. Các chính sách thuế, đồng tài trợ, hỗ trợ đổi mới công nghệ, nhân lực và hạ tầng dùng chung bổ sung điều kiện để các bên hợp tác lâu dài.
Đối với nhà khoa học, các cơ chế mới tạo điều kiện làm việc tại doanh nghiệp, góp vốn, tham gia quản lý doanh nghiệp và hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu theo đối tượng, điều kiện quy định. Hoạt động thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận và kết nối thị trường có thêm công cụ hỗ trợ, giúp tiếp nối quá trình từ nghiên cứu đến ứng dụng.
Trên thực tế, hợp tác giữa 3 nhà: viện, trường và doanh nghiệp đã tạo ra những công nghệ, sản phẩm có hiệu quả cụ thể. Giai đoạn 2021-2025, trong số 1.451 nhiệm vụ cấp quốc gia được tổng hợp, doanh nghiệp chủ trì 181 nhiệm vụ, chiếm 12,5%; kinh phí các nhiệm vụ này chiếm 25,7% tổng kinh phí của nhóm nhiệm vụ được tổng hợp.
Những mô hình hiệu quả cho thấy hợp tác có thể duy trì khi doanh nghiệp có bài toán rõ, đội ngũ tiếp nhận và cam kết đầu tư; viện, trường tham gia giải quyết yêu cầu thực tế; nguồn lực được tiếp nối đến khâu ứng dụng.
Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam xếp thứ 24 về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa đại học và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nhiều nhu cầu công nghệ chưa trở thành đơn đặt hàng, nhiều kết quả nghiên cứu chưa đủ điều kiện đưa ra thị trường. Năm 2024, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo là 34,6%; chỉ 6,7% doanh nghiệp nhỏ có bộ phận nghiên cứu và phát triển. Trong số 991 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ, có 27 doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu của viện, trường, chiếm khoảng 2,7%.
Số liệu GII 2026 cũng cho thấy chi nghiên cứu và phát triển do khu vực doanh nghiệp thực hiện của Việt Nam bằng 0,3% GDP, so với 1,3% của Singapore, 2,1% của Trung Quốc và 4,2% của Hàn Quốc. Nhà nghiên cứu làm việc trong doanh nghiệp chiếm 27,5% tổng số nhà nghiên cứu của Việt Nam, cho thấy yêu cầu tăng năng lực nghiên cứu và tiếp nhận công nghệ tại doanh nghiệp.
Đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu.
Từ tháng 1 đến tháng 8/2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. Đây là số liệu trong phạm vi báo cáo của các sàn, chưa phản ánh toàn bộ giao dịch công nghệ trên thị trường.
Đề xuất các nhóm giải pháp, triển khai từ quý IV/2026
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, vướng mắc không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở cách tổ chức hợp tác. Doanh nghiệp tham gia muộn khiến tính năng, giá thành và khả năng tích hợp chưa được thống nhất từ đầu; kết quả nghiên cứu thiếu dữ liệu vận hành, tiêu chuẩn, chứng nhận và vốn hoàn thiện. Các bên còn lúng túng về định giá, quyền khai thác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm khi thử nghiệm. Sản phẩm mới khó tìm khách hàng đầu tiên, trong khi hiệu quả sau nghiệm thu chưa được theo dõi thường xuyên.
Từ những vấn đề này, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định yêu cầu trọng tâm là đưa các cơ chế mới vào thực tế, duy trì hợp tác từ hình thành bài toán đến khi công nghệ được sử dụng. Nhà nước kiến tạo điều kiện, hỗ trợ và chia sẻ rủi ro theo quy định; viện, trường phát triển giải pháp; doanh nghiệp xác định nhu cầu, cùng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa. Các giải pháp tập trung gồm đo lường kết quả liên kết bằng 10 chỉ số, khai thác dữ liệu sẵn có; Đồng tài trợ theo vốn doanh nghiệp thực góp; Gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với kết quả hợp tác và chuyển giao công nghệ; Nâng cao năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp; Tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm mới; Phát huy vai trò tổ chức trung gian, cụ thể hóa quyền tự chủ trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
Để các giải pháp đi vào thực tiễn, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đề xuất Phó Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể liên quan triển khai nhiệm vụ từ quý IV/2026.
Trong đó, Bộ Khoa học và Công nghệ tháo gỡ vướng mắc, ban hành bộ chỉ số, hỗ trợ hoàn thiện và chứng nhận sản phẩm; Bộ Giáo dục và Đào tạo thúc đẩy cơ chế đối với giảng viên tham gia doanh nghiệp spin-off và đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ theo đặt hàng; Bộ Tài chính hướng dẫn đặt hàng, mua sắm công sản phẩm khoa học công nghệ mới và chia sẻ dữ liệu hoá đơn, thuế, đấu thầu.
Các bộ, ngành, địa phương được đề nghị xây dựng danh mục bài toán công nghệ, thí điểm đặt hàng và đồng tài trợ, hoàn thiện quy chế khai thác, định giá, góp vốn và đầu mối chuyển giao.
Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được kỳ vọng chủ động đặt hàng, thử nghiệm và trở thành khách hàng đầu tiên của sản phẩm khoa học công nghệ mới.
Mục tiêu đặt ra là chuyển từ hợp tác theo từng nhiệm vụ riêng lẻ sang liên kết xuyên suốt, trong đó doanh nghiệp xác định nhu cầu và tham gia đầu tư, viện trường phát triển giải pháp, còn Nhà nước kiến tạo điều kiện và chia sẻ rủi ro theo quy định. Đây là hướng đi nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực khoa học công nghệ./.