Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều cơ hội trong học tập, lao động và quản lý xã hội. Dù vậy, khả năng tiếp cận và khai thác những thành tựu này giữa các nhóm dân cư vẫn có sự khác biệt. Khoảng cách số vì thế không chỉ nằm ở điều kiện tiếp cận thiết bị hay Internet mà còn thể hiện ở kỹ năng sử dụng công nghệ, khả năng đánh giá thông tin và mức độ chủ động trước những thay đổi của môi trường số.
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp thu hẹp khoảng cách số, ngày 22/10 tại Hà Nội, Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế "Khoảng cách số và Năng lực AI" (Digital Gap and AI Literacy).
Năng lực AI trong bối cảnh chuyển đổi số
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những thay đổi sâu rộng trong đời sống kinh tế-xã hội, việc bảo đảm khả năng tiếp cận và khai thác công nghệ trở thành yêu cầu ngày càng cấp thiết. Đây cũng là vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi số, đòi hỏi sự quan tâm không chỉ đến phát triển công nghệ mà còn đến nâng cao năng lực của người sử dụng.
Phát biểu tại lễ khai mạc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nhấn mạnh AI hiện nay đang thay đổi nhanh chóng từ cách thức kết nối, làm việc, tham gia đời sống xã hội. Trí tuệ nhân tạo đem lại cơ hội đổi mới tri thức, phát triển con người. Nhưng đồng thời cũng đặt ra câu hỏi, liệu AI có làm gia tăng vấn đề bất bình đẳng trong xã hội, như chia rẽ, hay khoảng cách số của những người được hưởng lợi từ công nghệ và những người bị bỏ lại phía sau?
Dưới góc độ của một người làm nghiên cứu cách mọi người tương tác với AI, Giáo sư Yi Mou, Phó Viện trưởng Viện Truyền thông, Đại học Giao thông Thượng Hải, Trung Quốc đề cập thêm đến vấn đề "Ảo tưởng về mặt tri thức." Năng lực AI không phải là biết sử dụng công cụ đó mà còn là sự kiểm tra, đánh giá câu trả lời mà AI tạo ra.
Phần lớn các AI hiện nay đang được xây dựng trên thế giới. Những người sử dụng có thể sống ở khắp mọi nơi, vì thế nhu cầu, kinh nghiệm cũng khác nhau. Muốn AI được sử dụng hiệu quả, chúng ta không chỉ nhập khẩu AI từ bên ngoài mà trước tiên phải tạo dựng cơ hội trong nước.
Việt Nam và Trung Quốc có điểm tương đồng về nhóm dân số trẻ và lợi thế là nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng. Từ đó, việc chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, đặc biệt trong lĩnh vực báo chí-truyền thông giữa hai nước sẽ trở nên hiệu quả hơn.
Đáng chú ý, tại Việt Nam, việc đẩy mạnh phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định là định hướng chiến lược quan trọng trong các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Cùng với đó, việc ban hành Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Luật số 93/2025/QH15) và Nghị định số 180/2025/NĐ-CP đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy tự chủ khoa học, hợp tác công-tư và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội.
Trong tiến trình này, khoa học xã hội và nhân văn giữ vai trò đặc biệt trong việc phân tích tác động xã hội của công nghệ, nhận diện các rủi ro về bất bình đẳng, đạo đức và quản trị, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định và điều chỉnh chính sách phát triển AI theo hướng bao trùm và bền vững.
Theo bà Đặng Thị Thu Hương, khoảng cách số không chỉ là kết nối Internet hay sử dụng được Internet mà còn là vấn đề về khoảng cách số. Chính vì vậy, các kỹ năng số, khả năng tư duy, đánh giá thông tin, sử dụng AI hiệu quả và có trách nhiệm là những nhiệm vụ cấp thiết.
Trong đó, báo chí và truyền thông không đứng ngoài công cuộc chuyển đổi số. Báo chí cung cấp thông tin quan trọng như xác minh sự kiện thực tế, chống lại thông tin giả. Đặc biệt, trong môi trường AI tạo sinh, báo chí còn giúp công dân biệt giữa thông tin đáng tin cậy và thông tin sai lệch.
Nâng cao năng lực AI, mở rộng hợp tác giáo dục quốc tế
Tuy nhiên, để AI thực sự phát huy hiệu quả, việc phát triển công nghệ cần đi cùng với việc nâng cao năng lực của người sử dụng. Khoảng cách số không chỉ thể hiện ở khả năng tiếp cận thiết bị, Internet mà còn nằm ở sự khác biệt về kỹ năng khai thác công nghệ, khả năng đánh giá thông tin và điều kiện ứng dụng AI trong học tập, lao động, sản xuất.
Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục Trung Quốc, tính đến tháng 6/2026, hiện có 25.000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại các cơ sở giáo dục Trung Quốc, tăng hơn gấp đôi so với năm 2018. Sự tăng trưởng diễn ra đồng thời cả về số lượng và chất lượng, khi tỷ lệ học sau đại học chiếm ưu thế, phản ánh nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam.
Phát triển năng lực AI vì thế không chỉ là nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo hay doanh nghiệp công nghệ mà còn gắn với khả năng tiếp cận và thích ứng của nhiều nhóm xã hội. Bên cạnh kỹ năng sử dụng công cụ, người dùng cần có tư duy phản biện, khả năng nhận diện thông tin sai lệch và ý thức về trách nhiệm khi ứng dụng công nghệ.
Từ góc độ hội nhập quốc tế, việc trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu và đào tạo cũng được đặt ra như một hướng đi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng cách tiếp cận đối với những vấn đề mới của môi trường số.
Trên cơ sở đó, trong khuôn khổ Hội thảo, Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với Viện Truyền thông và Phương tiện truyền thông, Đại học Giao thông Thượng Hải, với mục tiêu tăng cường hợp tác đào tạo và nghiên cứu báo chí, truyền thông.
Việc ký kết biên bản ghi nhớ được kỳ vọng tạo cơ sở tăng cường kết nối giữa hai đơn vị, thúc đẩy trao đổi học thuật và nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, đặc biệt là trước những thay đổi do công nghệ số và AI mang lại.
Với 52 công trình được lựa chọn đăng trong kỷ yếu, hội thảo kết nối các góc nhìn nghiên cứu từ báo chí, truyền thông, giáo dục đến quản trị công, thị trường lao động và bảo tồn di sản. Các trao đổi học thuật góp phần bổ sung cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho quá trình nâng cao năng lực AI, hướng tới thu hẹp khoảng cách số và thúc đẩy chuyển đổi số bao trùm tại Việt Nam.
Bên cạnh phiên toàn thể, 4 phiên chuyên đề diễn ra song song bằng tiếng Việt và tiếng Anh, mở rộng phạm vi thảo luận từ hoạt động báo chí, truyền thông đến giáo dục, doanh nghiệp và quản trị công. Qua đó, khái niệm năng lực AI được nhìn nhận rộng hơn - không chỉ là khả năng sử dụng công cụ mà còn gắn với tư duy phản biện, khả năng đánh giá thông tin và sự thích ứng với môi trường công nghệ đang thay đổi.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi phương thức sản xuất, phân phối và tiếp nhận thông tin, việc tăng cường kết nối giữa các cơ sở đào tạo, nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và phương pháp tiếp cận. Đây cũng là cơ sở để hai viện tiếp tục mở rộng hợp tác, thúc đẩy các nghiên cứu liên ngành về khoảng cách số, năng lực AI và những tác động của công nghệ đối với hoạt động báo chí - truyền thông./.
Thành phố Hồ Chí Minh thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp thế hệ mới
Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng cốt lõi toàn cầu, Việt Nam đang tập trung phát triển các ngành công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn và chuyển đổi xanh.