Cảnh báo sớm Phòng vệ Thương mại: Giữ lợi thế cho hàng hóa xuất khẩu

Từ 2017 đến nay, số lượng vụ việc Phòng vệ Thương mại mà hàng hóa xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt ở thị trường nước ngoài chiếm tới trên 52% tổng số vụ việc mà Việt Nam đã gặp phải trong 30 năm qua.
Tọa đàm: “Cảnh báo sớm phòng vệ thương mại: Giữ lợi thế cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam,” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 6/11. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Số lượng các vụ việc Phòng vệ Thương mại trong vài năm gần đây tăng nhanh, không chỉ những thị trường lớn mà cả những thị trường mới, số vụ việc về Phòng vệ Thương mại cũng chiếm tỷ lệ rất lớn. Điều này đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước.

Đây cũng là nội dung chính của Tọa đàm: “Cảnh báo sớm phòng vệ thương mại: Giữ lợi thế cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam,” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 6/11, tại Hà Nội.

Số vụ kiện tăng vọt

Bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho hay số lượng các vụ việc phòng vệ thương mại vài năm trở lại đây tăng nhanh hơn nhiều so với giai đoạn trước đây.

Chỉ gần 6 năm (từ năm 2017 đến nay) số lượng vụ việc Phòng vệ Thương mại mà hàng hóa xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt ở các thị trường nước ngoài chiếm tới trên 52% tổng số vụ việc Phòng vệ Thương mại mà Việt Nam đã đối mặt trong hơn 30 năm qua. Trong đó, số vụ việc chống lẩn tránh biện pháp Phòng vệ Thương mại bị kiện từ năm 2017 đến nay (chiếm tới gần 60% tổng số vụ kiện chống lẩn tránh mà Việt Nam đã phải đối diện từ trước đến nay).

Trong khi đó, giai đoạn cuối năm 1990 đầu những năm 2000, những mặt hàng mà Việt Nam bị kiện chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu lớn và có thế mạnh trong xuất khẩu hoặc là mặt hàng xuất khẩu trọng điểm, như thủy sản hay giày dép, nhưng ở giai đoạn gần đây đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực và ngành hàng khác. 

“Tính đến hiện nay, có tới gần 40 mặt hàng đã bị kiện Phòng vệ Thương mại, trong đó, có những mặt hàng mà chúng ta cũng chỉ mới khai phá và kim ngạch không quá lớn,” đại diện VCCI dẫn chứng. Vị này thông tin thêm trước đây chỉ ở những thị trường xuất khẩu trọng điểm mới bị kiện Phòng vệ Thương mại, nhưng đến nay các thị trường khác, kể cả những thị trường mới, số vụ việc Phòng vệ Thương mại cũng chiếm tỷ lệ rất lớn.

Đơn cử, trong tổng số 235 vụ việc tính đến thời điểm hiện tại, thị trường Hoa Kỳ chiếm 23% số vụ việc, Ấn Độ chiếm 14%, Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 10%, sau đó là Canada, EU, Philippines, Indonesia.

Lý giải về sự gia tăng các vụ kiện Phòng vệ Thương mại ở một số thị trường lại nhiều hơn ở những thị trường khác, theo bà Trang, do một số thị trường có truyền thống sử dụng công cụ Phòng vệ Thương mại như là một trong những giải pháp chống lại sức ép của hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài. Ngoài ra, trong giai đoạn này một số thị trường gặp biến động về kinh tế, họ cảm thấy bất lợi, cạnh tranh khó khăn thì cũng gia tăng việc kiện Phòng vệ Thương mại.

Bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập của VCCI. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Bên cạnh đó, một số ngành hàng cũng bị kiện nhiều hơn, ví dụ như sắt, thép hay nhôm… dù không phải là nhóm mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam, nhưng đây lại là nhóm mặt hàng tập trung nhiều nhất các vụ kiện Phòng vệ Thương mại trên thế giới, vì thế mà những ngành hàng này cũng liên tục bị “nêu tên.”

“Thêm vào đó, có những mặt hàng mà Việt Nam đang gia tăng năng lực cạnh tranh và gây sức ép lên các ngành sản xuất nội địa ở các thị trường xuất khẩu, có thể là do chúng ta tận dụng được những ưu đãi về mặt thuế quan trong thông qua các hiệp định thương mại tự do, hoặc cũng có thể do chúng ta cũng đang cải thiện năng lực, thì những mặt hàng đó đang đứng trước nguy cơ bị kiện nhiều hơn,” đại diện VCCI nêu thực tế.

Hiện nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu chủ lực và lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, trong 8 tháng vừa qua, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đạt khoảng 73 tỷ USD và thặng dư thương mại khoảng 66 tỷ USD, đưa Việt Nam lên thứ ba về thặng dư thương mại với Hoa Kỳ chỉ sau Trung Quốc và Mexico.

Tuy vậy, ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ nêu con số thống kê, tỷ lệ các vụ việc Phòng vệ Thương mại của Hoa Kỳ áp dụng với Việt Nam chiếm khoảng 53% tổng số các vụ việc Phòng vệ Thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

“Tính đến tháng 10/2023, các vụ việc Phòng vệ Thương mại của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam chiếm đến 58 vụ việc và các mặt hàng cũng ngày càng mở rộng, đa dạng và không phải các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam ở thị trường này,” ông Đỗ Ngọc Hưng nói.

Cảnh báo sớm để hóa giải thách thức

Từ những con số nêu trên, có thể thấy, việc áp dụng Phòng vệ Thương mại của nước nhập khẩu đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp. Gần đây nhất, phía Hoa Kỳ đã chính thức khởi xướng điều tra các sản phẩm nhôm đùn ép và sau đùn ép của các doanh nghiệp Việt Nam.

Với vụ việc này, ông Vũ Văn Phụ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Nhôm Việt Nam đánh giá, đây là một vụ việc rất quan trọng với các doanh nghiệp ngành nhôm Việt Nam, bởi Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu rất lớn và phạm vi điều tra lần này rất rộng, ảnh hưởng đến rất nhiều doanh nghiệp ngành nhôm.

Cụ thể, với mức thuế mà phía Hoa Kỳ đề xuất là 53,7%, sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp ngành nhôm trong việc giữ thị trường, hay chuyển sang thị trường khác cũng là việc khá khó khăn tại thời điểm hiện nay.

Thực tế, không chỉ ở Hoa Kỳ mà ở tất cả các nước thì kiện Phòng vệ Thương mại là một quy trình pháp lý, đấu tranh về mặt kỹ thuật rất phức tạp, còn đối với các doanh nghiệp, không chỉ áp lực về mặt chi phí, mà tốn nhiều nhân lực, thời gian, trong khi những việc đó đều được thực hiện ở nước ngoài.

Xuất khẩu gia tăng cũng gây áp lực cho doanh nghiệp trước các vụ kiện về phòng vệ thương mại. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Bà Nguyễn Thu Trang, đại diện VCCI chia sẻ, phần lớn các trường hợp phía Việt Nam kháng kiện chưa hiệu quả là do chúng ta bị động, thời gian chuẩn bị quá ít và bị bất ngờ trong việc ứng phó với những vụ kiện.

“Vì vậy, cơ chế cảnh báo sớm cho phép chúng ta nhìn thấy nguy cơ từ xa để chuẩn bị từ sớm và rõ ràng nó đã giúp giải quyết được một vấn đề mà phần lớn các doanh nghiệp gặp phải là không có đủ thời gian. Chính vì thế, cơ chế cảnh báo sớm này rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp cũng như các hiệp hội để ứng phó hiệu quả với các biện pháp Phòng vệ Thương mại,” bà Trang nêu ý kiến.

Về phía Bộ Công Thương, ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ Thương mại cho rằng, bản chất của các biện pháp Phòng vệ Thương mại là nhằm đến các hành vi cạnh tranh không công bằng của hàng nhập khẩu, hoặc là do hàng nhập khẩu gia tăng với khối lượng đột biến không thể lường trước được.

Tuy vậy, thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi các biện pháp Phòng vệ Thương mại là do chưa hiểu hết được những quyền lợi, nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện, do đó có tâm lý e dè và ngại hợp tác, ngại cung cấp thông tin theo yêu cầu cơ quan điều tra, cũng như không đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu, quy định về thời hạn, về việc cung cấp thông tin…

Do đó, ông đề nghị khi đã xác định được nguy cơ thì doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị trước về hệ thống quản trị doanh nghiệp, kiểm tra lại hệ thống kế toán, sổ sách chứng từ… để đảm bảo các dữ liệu trên được hoàn thiện một cách đầy đủ, chính xác, khoa học, có thể truy xuất và xác minh được, đồng thời, phối hợp, thông qua sự tập hợp của các hiệp hội, để cùng chia sẻ thông tin, cùng đối phó với nguy cơ chung.

Ông Trung cho hay, trong lĩnh vực này, Cục Phòng vệ Thương mại sẽ tiếp tục làm là trang bị, nâng cao kiến thức về Phòng vệ Thương mại cho các doanh nghiệp. Đặc biệt, trên cơ sở thông tin từ hệ thống cảnh báo sớm, Cục sẽ làm việc này một cách có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những ngành hàng, những lĩnh vực có nguy cơ cao.

Cùng với đó, đơn vị đã xây dựng một số hướng dẫn cụ thể những vấn đề mang tính kỹ thuật mà doanh nghiệp sẽ gặp phải trong quá trình tham gia các vụ việc điều tra, ví dụ như cách thức tham gia vào vụ việc từ đầu đến cuối như thế nào, kể cả những việc rất đơn giản như là nộp hồ sơ lên cho cơ quan điều tra nước ngoài như thế nào cho đúng, cho đủ và hợp lệ…

“Trong quá trình đồng hành với doanh nghiệp, Cục sẽ tiếp tục theo dõi quy trình và hoạt động điều tra của cơ quan điều tra nước ngoài để đảm bảo quy trình, hoạt động điều tra tuân thủ đúng theo quy định pháp luật của họ và tuân thủ đúng theo các nguyên tắc và quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới, để làm sao bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của các doanh nghiệp Việt Nam,” ông Chu Thắng Trung nói./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục