Gỡ điểm nghẽn để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt mục tiêu 74 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ của nền kinh tế nhưng đang đối mặt nhiều thách thức, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ để hoàn thành mục tiêu kim ngạch 74 tỷ USD trong năm 2026.
Dây chuyền chế biến thủy sản xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế nhưng đang đối mặt với nhiều rào cản về thị trường và thủ tục hành chính. Để hoàn thành mục tiêu kim ngạch 74 tỷ USD trong năm 2026, nhiều hiệp hội, ngành hàng kiến nghị cơ quan quản lý đồng hành cùng doanh nghiệp tháo gỡ các điểm nghẽn.

Đây là nội dung được đề cập nhiều tại Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng về thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng cuối năm 2026 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức chiều 30/7, tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nửa đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp; cạnh tranh chiến lược, xung đột, biến động giá năng lượng, chi phí logistics và các rào cản thương mại đã tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản. Tuy nhiên với sự chỉ đạo của Chính phủ và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, ngành nông nghiệp và môi trường vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực.

Tính đến hết tháng Bảy, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 42,6 tỷ USD, tăng khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2025 và đạt 57,6 % kế hoạch đề ra của năm 2026; tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những trụ cột của nền kinh tế.

Nhiều ngành hàng như rau quả, thủy sản, hạt tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ vẫn duy trì tăng trưởng. Đặc biệt, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, lâm sản và thủy sản chính thức vận hành từ ngày 1/7/2026, góp phần nâng cao tính minh bạch, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Dây chuyền đóng bao gạo xuất khẩu tại tỉnh An Giang. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Bên cạnh kết quả đạt được, xuất khẩu nông sản cũng đang đối mặt không ít thách thức. Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực như gạo, càphê, cao su và chè sụt giảm do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh; trong khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh và giảm phát thải.

Đặc biệt, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đặt ra yêu cầu rất cao đối với doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi sản xuất.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, song các chính sách quản lý nhập khẩu mới đang gây khó khăn cho doanh nghiệp, trong khi nhu cầu của thị trường này vẫn ở mức cao.

Hiệp hội kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động làm việc với phía Philippines, thúc đẩy cơ chế đối thoại giữa Hiệp hội Lương thực hai nước nhằm tháo gỡ vướng mắc, hướng tới hợp tác lâu dài. Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu sang châu Phi và các thị trường tiềm năng khác để giảm phụ thuộc vào thị trường truyền thống.

Đối với sản xuất và điều hành thị trường, Hiệp hội kiến nghị Bộ tiếp tục điều hành linh hoạt trong cao điểm thu hoạch vụ Hè Thu và Thu Đông nhằm giữ ổn định giá lúa, bảo đảm lợi nhuận cho nông dân và tạo điều kiện để doanh nghiệp thu mua.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xây dựng vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết sản xuất-tiêu thụ, nâng cao năng lực hợp tác xã, tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách, đồng thời sớm cung cấp thông tin về cơ cấu giống, diện tích và tiến độ gieo sạ để doanh nghiệp chủ động kế hoạch thu mua và phát triển thị trường.

Hiệp hội cũng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành tháo gỡ một số khó khăn về cơ chế, chính sách; trong đó, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước xây dựng chính sách tín dụng phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông dân tiếp cận vốn phục vụ sản xuất, thu mua và dự trữ; nghiên cứu cơ chế thanh toán phù hợp để doanh nghiệp có thể thu mua trực tiếp từ nông dân, giảm chi phí trung gian và thúc đẩy liên kết chuỗi; đồng thời kiến nghị Bộ Tài chính đẩy nhanh hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản nhằm cải thiện dòng tiền và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Sầu riêng xuất khẩu được tập kết tại một vựa trái cây . (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Với ngành rau quả, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản vẫn còn nhiều điểm nghẽn; trong đó, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói còn phức tạp, thời gian xử lý kéo dài, đặc biệt vào mùa vụ, ảnh hưởng đến xuất khẩu và gây thiệt hại cho doanh nghiệp, người sản xuất.

Thực tế sản xuất còn nhiều khác biệt so với yêu cầu của thị trường nhập khẩu, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp thiếu bền vững, tình trạng mua bán, giả mạo mã số vùng trồng vẫn diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ mất thị trường.

Bên cạnh đó, quản lý vật tư nông nghiệp, hóa chất bảo quản chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng nông sản nhiễm hóa chất cấm hoặc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng, khiến nhiều lô hàng bị trả về hoặc tiêu hủy, ảnh hưởng đến uy tín nông sản Việt Nam.

Hoạt động kiểm nghiệm, kiểm dịch thực vật cũng còn nhiều bất cập như quá tải, chậm trả kết quả, thiếu minh bạch, làm kéo dài thời gian thông quan. Ngoài ra, các vướng mắc về thuế giá trị gia tăng đầu vào và quy định chứng từ mua bán giữa doanh nghiệp với hộ sản xuất vẫn chưa được tháo gỡ.

Để khắc phục các tồn tại, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề xuất đơn giản hóa quy trình cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, đẩy mạnh số hóa dữ liệu, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; tăng cường phổ biến quy định về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn SPS, chuyển đổi số và sản xuất giảm phát thải cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Đồng thời, cần kiểm soát chặt vật tư nông nghiệp, xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất canh tác, mở rộng vùng trồng được cấp mã số và thúc đẩy mở cửa thị trường cho các loại trái cây tiềm năng.

Dây chuyền chế biến xoài xuất khẩu tại nhà máy của Công ty B'LaoFood (thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng). (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Hiệp hội Rau quả Việt Nam cũng kiến nghị sớm tháo gỡ vướng mắc về thuế giá trị gia tăng, hoàn thuế và chứng từ mua bán; đẩy nhanh đàm phán với phía Trung Quốc về công nhận kết quả kiểm nghiệm, kiểm dịch và liên thông dữ liệu hải quan nhằm rút ngắn thời gian thông quan; đồng thời khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng logistics và hệ thống kiểm nghiệm tại các vùng nguyên liệu để nâng cao năng lực xuất khẩu nông sản.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Mạnh Hùng nhận định, những tháng cuối năm 2026, kinh tế-chính trị thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp với xung đột tại Trung Đông, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và các yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững.

Trong nước, sản xuất nông nghiệp vẫn chịu tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đòi hỏi ngành nông nghiệp phải thích ứng linh hoạt để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu.

Để thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong nửa cuối năm, Bộ sẽ theo dõi sát diễn biến thị trường, tăng cường dự báo, cảnh báo sớm và điều hành xuất khẩu linh hoạt gắn với dữ liệu truy xuất nguồn gốc quốc gia.

Tập trung tháo gỡ khó khăn cho các ngành hàng có nguy cơ suy giảm giá trị xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp về tín dụng, logistics, kho lạnh, thông quan và mở rộng thị trường.

Cùng đó, Bộ sẽ đẩy mạnh xúc tiến thương mại theo hướng gắn với mở cửa thị trường, xử lý rào cản kỹ thuật, phát triển kênh phân phối và thương mại điện tử xuyên biên giới; ưu tiên khai thác các thị trường tiềm năng như ASEAN, Nam Á, Trung Đông, châu Phi và châu Mỹ Latinh.

Đồng thời, tiếp tục mở rộng Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác dữ liệu phục vụ đàm phán và phát triển thị trường xuất khẩu./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục