Đến Bát Tràng theo đường sông, một chuyến đi có thể bắt đầu bằng vài giờ trên mặt nước, nhưng sẽ không mấy ý nghĩa nếu con thuyền chỉ đưa du khách cập bến rồi quay về. Bởi điều đáng chờ đợi lại nằm ở phía sau đó: con đường dẫn vào làng, xưởng gốm còn đỏ lửa, những người thợ tỉ mẩn nắn chỉnh từng dáng bình trên bàn xoay, một bữa cơm quê hay vùng rau ven sông đang vào vụ…
Những lát cắt sinh động như vậy vẫn hiện diện mỗi ngày bên sông Hồng, nhưng phần lớn đang tồn tại như những điểm riêng lẻ. Vì thế, một bài toán lớn đang đặt ra cho ngành du lịch Hà Nội là: làm thế nào để dòng sông trở thành trục kết nối những giá trị vốn đã có, từ nông nghiệp, làng nghề, di sản đến văn hóa đến đời sống cộng đồng?
Nối những “mảnh ghép” ven sông
Sông Hồng không thiếu tài nguyên để hình thành một không gian du lịch đa lớp, điều còn thiếu là cách kết nối để một chuyến đi có thể kéo dài ngay khi du khách bước chân lên bến.
Đại diện một số công ty lữ hành cho rằng du lịch đường thủy có thể kết nối văn hóa, sinh thái, làng nghề với các hoạt động kinh tế ven sông. Để biến tiềm năng thành sản phẩm, cần có hệ thống bến thủy, điểm dừng, không gian công cộng và kết nối giữa đường bộ với đường thủy.
Làm được vậy, một hành trình có thể bắt đầu từ trung tâm Hà Nội bằng đường thủy. Sau khi xuống bến, du khách tiếp tục đi bộ hoặc đạp xe qua không gian làng quê, ghé vào làng, xem nghệ nhân làm nghề, thưởng thức món ăn địa phương rồi đi tiếp đến một điểm di sản hoặc vùng sản xuất nông nghiệp. Nếu có thêm không gian biểu diễn, chợ đêm, hoạt động văn hóa theo mùa, hành trình ấy có thể kéo dài từ một chuyến đi trong ngày thành một trải nghiệm qua đêm.
Đó cũng là cách tiếp cận khá gần với tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn: phát triển nông nghiệp theo hướng tích hợp đa giá trị, gắn nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; bảo tồn và phát triển ngành nghề, làng nghề, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, đồng thời tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.
Khi đặt trong không gian sông Hồng, tinh thần ấy có thể được cụ thể hóa bằng cách biến vùng sản xuất nông nghiệp không tạo ra nông sản, làng nghề không chỉ sản xuất hàng hóa, di tích cũng không chỉ là nơi để tham quan. Mỗi “mảnh ghép” có thể trở thành một mắt xích trên hành trình.
Bát Tràng là một ví dụ. Việc phát triển sản phẩm du lịch nông nghiệp, nông thôn gắn với làng gốm Kim Lan và vùng rau an toàn Văn Đức cho thấy nếu tổ chức tốt, một chuyến đi có thể đi qua nhiều lớp không gian: từ mặt nước đến làng nghề, từ sản xuất thủ công đến nông nghiệp.
Ở Vạn Phúc, câu chuyện lại bắt đầu từ nghề dệt lụa. Quy hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề được phê duyệt đầu năm 2026 đặt ra những không gian giới thiệu nghề, trình diễn quy trình sản xuất, trưng bày, trải nghiệm văn hóa cùng hệ thống tuyến đi bộ và không gian công cộng. Giá trị của làng nghề vì thế không chỉ được “tích hợp” trong sản phẩm bán cho du khách, mà nằm cả ở câu chuyện về nghề và những con người đang giữ nghề.
Các chuyên gia cho rằng đây là điểm mà quy hoạch du lịch ven sông không nên bỏ qua. Nếu chỉ làm bến tàu, tuyến tàu mà không tạo được đường đi sâu vào đời sống hai bên bờ, sông Hồng có thể trở thành một tuyến tham quan đẹp nhưng “nông.” Ngược lại, nếu mỗi bến là một “cửa ngõ” mở vào một lớp trải nghiệm khác nhau, dòng sông có thể trở thành xương sống của một mạng lưới điểm đến.
Để làng nghề có lý do giữ nghề
Một làng nghề chỉ thật sự trở thành điểm đến khi du khách muốn ở lại lâu hơn thời gian mua một món đồ. Trở lại với Bát Tràng, câu chuyện có thể bắt đầu từ gốm, nhưng điều khiến người ta nhớ lâu chính là cảm giác tự tay vuốt đất trên bàn xoay, nghe nghệ nhân kể về một dòng men, bước qua những con ngõ cũ nhỏ ngoằn nghoèo, hay ngồi ăn bữa cơm trong ngôi nhà cổ giữa làng. Với những làng nghề khác, câu chuyện có thể là dệt, mây tre, sơn mài, chế biến thực phẩm hoặc một nghề gắn với tập quán của cộng đồng.
Vì thế, phát triển du lịch làng nghề không đơn giản là nhân bản một mô hình. Bởi Bát Tràng có câu chuyện của Bát Tràng, Chu Đậu có câu chuyện của Chu Đậu, Phù Lãng có câu chuyện của Phù Lãng. Các cộng đồng Thái, Mường, Gia Rai hay Chăm cũng có những cách khác nhau để kể về nghề, về trang phục và đời sống của mình.
Điều quan trọng là mỗi cộng đồng phải được đặt vào đúng trung tâm của chuỗi giá trị. Nghệ nhân có thể trở thành người kể chuyện và hướng dẫn trải nghiệm; các hộ gia đình tham gia cung cấp sản phẩm, bữa ăn, lưu trú; người trẻ đảm nhận những công việc mới như xây dựng nội dung số, bản đồ trải nghiệm, thuyết minh hoặc bán hàng trực tuyến. Khi người dân có phần lợi ích đủ rõ từ hoạt động du lịch, việc bảo tồn nghề mới có thêm một động lực thực tế.
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Trung Lương, cho rằng phát triển du lịch làng nghề cần một chiến lược lâu dài, trong đó phải có sự tham gia của cộng đồng để bảo tồn gắn trực tiếp với lợi ích kinh tế, đồng thời hướng tới du lịch xanh.
Hướng đi này cũng được đặt ra trong Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa ký ban hành. Nghị quyết xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, có khả năng tạo giá trị gia tăng, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, tài nguyên thiên nhiên.
Đặt trong câu chuyện sông Hồng, điều này có nghĩa du lịch không nên đứng bên ngoài nông nghiệp hay làng nghề để “khai thác” tài nguyên. Du lịch phải trở thành một phương thức giúp những giá trị ấy gặp nhau và tạo thêm giá trị.
Muốn vậy, hạ tầng phải đi trước một bước. Bến thủy không thể tách khỏi đường bộ, điểm dừng phải gắn với điểm đến, phương tiện đường thủy cần kết nối được với xe đạp, đi bộ và giao thông công cộng. Sự thuận tiện của giao thông sẽ quyết định việc du khách có thực sự muốn bước xuống thuyền, đi sâu vào làng hay chỉ ngắm cảnh từ trên sông.
Kinh tế đêm cũng có thể mang đến sức sống mới cho khu vực ven sông nếu được tổ chức phù hợp các không gian ẩm thực, biểu diễn, chợ thủ công, trải nghiệm làng nghề và các hoạt động văn hóa theo mùa. Khi đó, sông Hồng không chỉ có một nhịp trải nghiệm ban ngày mà có thể hình thành những lý do khác để du khách quay lại vào buổi tối, vào mùa lễ hội hay các thời điểm khác trong năm.
Mỗi làng nghề đón được bao nhiêu khách là thước đo quan trọng, nhưng chưa đủ. Bởi thời gian du khách ở lại, chi tiêu, thu nhập của hộ làm nghề, số người nối nghiệp, khả năng truyền nghề qua các thế hệ và mức độ nguyên vẹn của không gian văn hóa bản địa… tăng lên mới thực sự tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng, làng nghề.
Phó Cục Trưởng Cục du lịch Quốc gia, ông Hà Văn Siêu từng nhấn mạnh rằng khi người dân làng nghề trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, di sản văn hóa sẽ được bảo vệ và Việt Nam có thêm khả năng tạo ra khác biệt trên thị trường quốc tế.
Với sông Hồng, bài toán vì thế không phải là tạo thêm thật nhiều điểm đến. Hà Nội đã có đủ những mảnh ghép: dòng sông, bãi bồi, vùng nông nghiệp, làng nghề, di sản, lễ hội và những cộng đồng vẫn đang sống trong chính không gian ấy. Điều đang thiếu là kết nối chúng lại thành một hành trình trải nghiệm hấp dẫn.
Khi ấy, sông Hồng hiện diện không chỉ với tư cách một cảnh quan trong quy hoạch đô thị. Dòng sông có thể trở thành “xương sống” của một chuỗi giá trị mới, nơi nông nghiệp, làng nghề, di sản và du lịch cùng tạo ra sinh kế, giữ lại bản sắc và mở thêm những lý do để du khách ở lại với Thủ đô đủ lâu, đủ sâu./.