Sau hợp nhất 3 địa phương, diện tích đất nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh tăng gấp 4 lần so với diện tích nông nghiệp của Thành phố trước đó.
Không gian mở ra mang đến nhiều cơ hội để phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, chất lượng, giá trị gia tăng cao và gắn với thị trường.
Để làm được điều này, Thành phố đã xác định quy hoạch lại không gian phát triển ngành nông nghiệp theo 3 vùng, dựa trên lợi thế của mỗi nơi để phát triển các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với điều kiện, lợi thế từng vùng; đồng thời, cũng có các giải pháp phù hợp để kết nối thế mạnh mỗi vùng trong không gian phát triển của ngành nông nghiệp.
Từ thực tiễn trên, TTXVN thực hiện chùm 2 bài viết với nội dung "Tái cấu trúc ngành nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh" nhằm phản ánh những lợi thế, cơ hội cũng như những thách thức trong việc thúc đẩy ngành nông nghiệp thành phố phát triển bền vững hơn trong bối cảnh mới.
Bài 1: Mở rộng không gian phát triển ngành nông nghiệp sau hợp nhất
Sau khi hợp nhất Thành phố Hồ Chí Minh với Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu, ngành nông nghiệp Thành phố đứng trước một bước ngoặt chưa từng có.
Diện tích đất nông nghiệp tăng gấp bốn lần so với trước, kéo theo sự thay đổi căn bản về không gian sản xuất, quy mô vùng nguyên liệu và vai trò của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế đô thị.
Tuy nhiên, cùng với cơ hội mở rộng là hàng loạt thách thức về quản trị, quy hoạch và tổ chức sản xuất, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc ngành nông nghiệp một cách bài bản và dài hạn.
Nhiều lợi thế
Từ một nền nông nghiệp mang tính "nông nghiệp đô thị" với diện tích hạn chế, Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội hình thành một không gian nông nghiệp rộng lớn, đa dạng sinh thái và sản phẩm, đủ điều kiện để xây dựng các chuỗi giá trị nông sản quy mô lớn gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu.
Với diện tích đất nông nghiệp sau hợp nhất lên đến 454.000ha, không gian nông nghiệp mới mang lại cho Thành phố Hồ Chí Minh lợi thế hiếm có về sự đa dạng sản phẩm.
Bình Dương nổi bật với cao su, cây ăn trái có múi và chăn nuôi tập trung; Bà Rịa-Vũng Tàu có lợi thế về hồ tiêu, càphê, cây ăn trái, thủy hải sản và nuôi trồng ven biển; khu vực Cần Giờ, Bình Chánh, Củ Chi phát triển mạnh nông nghiệp đô thị như hoa lan, cá cảnh, rau an toàn, nông nghiệp công nghệ cao.
Theo ông Võ Thành Giàu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, sự phong phú này giúp Thành phố có thể tự chủ khoảng 60% nguồn cung nông sản cho thị trường nội địa, đồng thời tạo nền tảng để hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu. Đây là lợi thế hiếm có trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thực phẩm sạch, đảm bảo nguồn gốc, xuất xứ của 14 triệu dân Thành phố ngày càng gia tăng.
Không gian nông nghiệp rộng lớn như vậy tạo ra một "xung lực" rất mạnh để Thành phố Hồ Chí Minh có những thay đổi căn bản về chất trong phát triển nông nghiệp.
Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là nơi tiêu thụ nông sản, mà đang dần hội tụ đủ các điều kiện để trở thành trung tâm điều phối chuỗi giá trị nông nghiệp của vùng, từ nghiên cứu giống, chuyển giao công nghệ, chế biến sâu đến logistics và xuất khẩu.
Các chuyên gia cũng cho rằng không gian mở rộng giúp Thành phố có đủ "đất" để thử nghiệm những mô hình nông nghiệp công nghệ cao quy mô lớn, nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch hay các khu tổ hợp sản xuất-chế biến-logistics. Đây là cơ hội để thu hút dòng vốn đầu tư mới vào nông nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đây là điều kiện để Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng chuỗi giá trị nông sản khép kín, từ sản xuất đến thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu.
Là một hợp tác xã đa ngành, vừa nuôi trồng thủy hải sản, vừa hoạt động du lịch, dịch vụ, hợp tác xã Thủy sản Như Ý Long Sơn (xã Long Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh) sau khi mở rộng địa giới hành chính đứng trước cơ hội thị trường rất lớn, tệp khách hàng mở rộng ra khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, từ nhà hàng đến khách sạn, từ người dân Thành phố đến du khách.
"Chúng tôi có những bạn hàng, đầu mối tiêu thụ lớn hơn. Các chương trình kết nối sản xuất với tiêu thụ, cũng giúp chúng tôi mở rộng địa bàn hoạt động. Từ sự phát triển này, chúng tôi sẽ tiếp tục vươn dài tới những thị trường tiềm năng khác, tiếp tục mở rộng quy mô, diện tích và làm bền vững chuỗi giá trị từ sản xuất đến thị trường," ông Nguyễn Quý Trọng Bình, Giám đốc Hợp tác xã Thủy sản Như Ý Long Sơn, cho biết.
Còn đối với hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp An Sơn, chuyên sản xuất măng cụt Lái Thiêu, thị trường không chỉ rộng mở ra 14 triệu dân, mà còn hướng mạnh tới xuất khẩu.
Nhờ việc hợp nhất, khoảng cách giữa sản xuất và thị trường được rút ngắn lại, các chương trình kết nối, xúc tiến thương mại của Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp hợp tác xã tìm được động lực để phát triển.
"Chúng tôi đã làm truy xuất nguồn gốc cho vùng trồng, thị trường đã kết nối không chỉ với Thành phố Hồ Chí Minh mà tới nhiều tỉnh, thành như: Hà Nội, hiện cung không đủ cầu. Nhưng để nâng cao giá trị, thì phải hướng mạnh ra xuất khẩu. Đặc biệt mới đây, chúng tôi đã ký kết được hai hợp đồng sang Singapore và Hàn Quốc với đối tác tại Vũng Tàu. Đây là hiệu quả của việc hợp nhất, giúp sản xuất-thị trường dễ dàng gặp nhau, sự liên kết sẽ giúp tăng giá trị nông sản," ông Trần Văn Viễn, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp An Sơn, cho biết.
Thách thức phát triển nông nghiệp bền vững
Tuy nhiên, thực tế cho thấy đất nông nghiệp nhiều hơn không đồng nghĩa với hiệu quả cao hơn. Hiện nay, tại nhiều khu vực sau hợp nhất, sản xuất nông nghiệp vẫn manh mún, thiếu liên kết, phụ thuộc lớn vào thương lái.
Hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng, kho lạnh và cơ sở chế biến chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích ở nhiều nơi còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai và lợi thế thị trường của Thành phố Hồ Chí Minh.
Một số hợp tác xã cho rằng dù sản xuất đạt chuẩn, đầu ra vẫn bấp bênh do thiếu hợp đồng bao tiêu dài hạn, rủi ro thị trường cao. Sự lỏng lẻo trong kết nối giữa "đầu tàu" tiêu thụ là doanh nghiệp, với vùng nguyên liệu, do phụ thuộc vào mùa vụ, tiêu dùng, khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển, logistics... khiến nhiều hợp tác xã khó phát triển.
Tuy nhiên, ngay cả với những hợp tác xã sản xuất theo chuỗi cũng "chùn chân" trên con đường nông nghiệp bền vững bởi chi phí cao, lợi nhuận chưa tương xứng.
Hợp tác xã Bưởi da xanh Hắc Dịch (phường Tân Thành, Thành phố Hồ Chí Minh) có 40ha sản xuất tập trung, cung ứng 800-1.000 tấn/ năm.
Ngay từ khi thành lập, hợp tác xã đã lựa chọn sản xuất theo chuỗi, lấy hợp đồng liên kết và tiêu chuẩn chất lượng làm nền tảng phát triển, tránh phụ thuộc thương lái và giá trị thấp, nhưng vẫn phải đối diện nhiều khó khăn.
"Trước hết là chi phí tuân thủ tiêu chuẩn và mã số vùng trồng còn cao, việc duy trì chứng nhận VietGAP, thực hiện nhật ký canh tác, kiểm nghiệm định kỳ, truy xuất nguồn gốc... đòi hỏi chi phí không nhỏ, là khó khăn lớn với các nông hộ quy mô nhỏ, vốn chiếm tỷ lệ lớn trong hợp tác xã. Bên cạnh đó, rủi ro thị trường vẫn là yếu tố khiến liên kết chuỗi thiếu ổn định. Khi giá cả biến động, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn, một số mắt xích trong chuỗi có nguy cơ "đứt gãy," ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của người dân và cam kết liên kết," ông Nguyễn Trọng Trung, Giám đốc Hợp tác xã Bưởi da xanh Hắc Dịch, cho biết.
Từ thực tế hoạt động, ông Trung cũng chỉ ra một "nút thắt" khác trong phát triển bền vững, đó là thiếu hạ tầng sau thu hoạch ở quy mô vùng. Kho mát, sơ chế, đóng gói và logistics là những khâu quyết định chất lượng và khả năng mở rộng thị trường, đặc biệt là với mục tiêu xuất khẩu.
Dù đã chủ động đầu tư một số hạng mục, nhưng để đạt các tiêu chuẩn cao hơn, đồng bộ và chuyên nghiệp hơn, cần nguồn lực rất lớn, vượt qua khả năng tự thân của hợp tác xã đơn lẻ.
Tiến sỹ Nguyễn Hải An, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí Minh, cũng chỉ ra nông dân, hợp tác xã rất hạn chế trong tiếp cận các nguồn lực cần thiết để phát triển, từ các kết quả nghiên cứu, tiến bộ khoa học, kỹ thuật, đến nguồn lực đất đai, tài chính...
Đơn cử như việc người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã rất khó tiếp cận kết quả đề tài nghiên cứu, có thể do các nghiên cứu chưa bám sát với thực tiễn sản xuất, nhưng cũng có thể do việc chuyển giao gặp rào cản về pháp lý, luật, làm giảm giá trị từ nghiên cứu đến sản xuất kinh doanh.
"Bên cạnh đó, dù khi đã sản xuất ra hàng hóa rồi, thì việc tiêu thụ cũng rất thách thức, vì hạn chế nguồn lực, nên nông dân, hợp tác xã khó xây dựng thương hiệu, giá trị gia tăng thấp, nghịch cảnh "được mùa mất giá" vẫn xảy ra, nhất là với những sản phẩm giá trị cao... Do đó, tôi cho rằng, các cơ chế nhà nước cần lèo lái là làm sao tăng marketing, thị trường, hỗ trợ cho bà con nông dân trong việc thương mại hóa sản phẩm, tạo giá trị gia tăng tốt hơn," Tiến sỹ Nguyễn Hải An nêu quan điểm.
Một thách thức lớn khác trong phát triển nông nghiệp tại đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, đó là nguy cơ thu đất nông nghiệp bị sử dụng kém hiệu quả, thậm chí bị thu hẹp hay chuyển đổi sang các mục đích khác. Điều này là dễ hiểu, khi hiệu quả giá trị sản xuất trên 1ha nông nghiệp thấp hơn nhiều so với tiềm năng thị trường, không hấp dẫn bằng những ngành nghề công nghiệp-dịch vụ khác...
Chưa kể thách thức từ tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu khiến sản xuất ngày càng khó khăn, chi phí cao, trong khi áp lực thiếu nhân lực cho ngành nông nghiệp.
Các chuyên gia kinh tế nông nghiệp cho rằng, nếu không tái cấu trúc kịp thời, tình trạng "đất nhiều nhưng giá trị thấp," làm suy giảm động lực phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc mở rộng không gian nông nghiệp sau hợp nhất rõ ràng là cơ hội lịch sử, nhưng cơ hội chỉ trở thành động lực phát triển nếu đi kèm với tư duy quản trị mới, quy hoạch khoa học và chính sách đủ mạnh. Nếu không, nguy cơ "mở rộng nhưng không sâu" hoàn toàn có thể xảy ra, khiến tiềm năng lớn của ngành nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị bỏ ngỏ./.
Bài cuối: Phân vùng nông nghiệp và bài toán nâng giá trị gia tăng