Nằm trên vùng đất có truyền thống trồng chè lâu đời của Thái Nguyên, La Bằng đang từng bước khẳng định vị thế của một vùng chè đặc sản.
Từ việc nâng chất lượng vùng nguyên liệu, thay đổi cơ cấu giống, phát triển sản xuất an toàn đến chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch trải nghiệm, cây chè đang trở thành sinh kế quan trọng và mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững cho người dân địa phương.
Giữ thương hiệu, nâng giá trị
La Bằng hiện có 1.135,7 ha chè, trong đó 1.079,3 ha chè kinh doanh và 56,4 ha chè kiến thiết cơ bản. Cơ cấu giống chè đã có sự chuyển dịch rõ rệt. Nếu trước đây giống chè Trung du chiếm tỷ lệ lớn thì hiện nay chỉ còn khoảng 5% diện tích, trong khi các giống chè mới chiếm 95%, chủ yếu là LDP1, Phúc Thọ, Long Vân, VN20...
Không chỉ chú trọng năng suất, địa phương ngày càng quan tâm đến chất lượng và tính an toàn của sản phẩm.
Hiện La Bằng có 360 ha chè được chứng nhận VietGAP, 17 ha được chứng nhận hữu cơ và 65,31 ha được cấp mã số vùng trồng.
Đây là cơ sở quan trọng để vùng chè từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc và an toàn thực phẩm.
Ông Hoàng Hải An, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã La Bằng, cho biết địa phương xác định phát triển cây chè phải đi đôi với bảo đảm chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm.
“Thời gian tới, xã tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân thực hiện canh tác hữu cơ, bảo đảm an toàn đến tay người tiêu dùng; đồng thời đẩy mạnh chế biến, quảng bá thương hiệu và phát triển các sản phẩm có giá trị cao hơn,” ông Hoàng Hải An chia sẻ.
Để tổ chức lại sản xuất, La Bằng đã quy hoạch hai vùng chè tập trung là Cầu Đá - La Lương với diện tích 79 ha và Đồng Tiến - La Cút - La Bằng với diện tích 101 ha.
Trên địa bàn hiện có 10 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh chè, 28 tổ hợp tác sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và khoảng 160 cơ sở chế biến, kinh doanh chè nhỏ lẻ.
Chè La Bằng đã được cấp nhãn hiệu tập thể “Chè La Bằng” từ năm 2011. Sau hơn một thập kỷ, nhãn hiệu này tiếp tục được hợp tác xã Chè La Bằng và một số hợp tác xã sử dụng, góp phần tạo dựng hình ảnh riêng cho sản phẩm chè địa phương.
Từ nguyên liệu chè, các cơ sở đã phát triển nhiều sản phẩm đa dạng như chè Đinh, chè Móc câu, chè Tôm nõn, chè xanh, Hồng trà, Matcha và các sản phẩm trà ướp hương bưởi, hương sen.
Đặc biệt, chương trình OCOP đang tạo thêm động lực để các chủ thể nâng cao chất lượng sản phẩm. La Bằng có 6 sản phẩm chè từng được chứng nhận OCOP.
Trong đó, Thanh Hương Trà của hợp tác xã Chè Cầu Đá được công nhận OCOP 3 sao năm 2025; Thanh Hải Trà của hợp tác xã Chè La Bằng được công nhận OCOP 5 sao vào tháng 4/2026.
Giá trị sản phẩm cũng có sự khác biệt lớn giữa chè nguyên liệu và chè thành phẩm. Chè búp tươi hiện được người dân bán với giá khoảng 35.000-70.000 đồng/kg tùy thời điểm. Trong khi đó, chè khô phổ biến có giá 200.000-500.000 đồng/kg; một số dòng chè đặc sản của các hợp tác xã có giá từ 800.000 đồng đến 1,5 triệu đồng/kg.
Khoảng cách về giá trị cho thấy dư địa lớn để ngành chè La Bằng phát triển theo hướng chế biến sâu. Thay vì chỉ bán chè búp tươi, các hợp tác xã đang tập trung xây dựng sản phẩm đặc sản, đầu tư mẫu mã, bao bì, thương hiệu và mở rộng thị trường thông qua siêu thị, sàn thương mại điện tử và mạng xã hội.
Đổi mới sản phẩm từ cây chè
Hợp tác xã Lạc Yên Trà là một ví dụ về cách làm mới sản phẩm chè. Từ vùng nguyên liệu gần 1 ha, hợp tác xã tập trung sản xuất bột Matcha từ giống chè Trung du. Với quy trình nghiền bằng cối đá, khoảng 5 kg lá chè cho ra 1 kg Matcha.
Chị Nguyễn Hải Yến, Giám đốc hợp tác xã Lạc Yên Trà, cho biết ý tưởng phát triển Matcha bắt đầu sau chuyến thăm Nhật Bản khi còn là sinh viên. Sau thời gian tìm hiểu, thử nghiệm, sản phẩm dần được hoàn thiện và đưa ra thị trường.
“Matcha là sản phẩm mới đối với nông nghiệp địa phương nên chúng tôi gặp không ít khó khăn về công nghệ và sản lượng. Tuy nhiên, hướng đi của hợp tác xã là tập trung vào những sản phẩm chế biến sâu, tốt cho sức khỏe và có giá trị cao hơn,” chị Nguyễn Hải Yến cho biết thêm.
Hiện hợp tác xã cung cấp khoảng 500 kg Matcha mỗi tháng, chủ yếu bán lẻ và cung cấp cho các chuỗi đồ uống. hợp tác xã cũng phát triển các sản phẩm như kẹo lạc trà xanh, kẹo dồi trà xanh, đồng thời tổ chức cho khách tham quan trải nghiệm thu hái chè, chế biến và thưởng thức Matcha.
Cách làm này cho thấy cây chè La Bằng đang được tiếp cận theo hướng đa giá trị. Một sản phẩm chè có thể trở thành nguyên liệu cho đồ uống, thực phẩm, quà tặng hoặc sản phẩm du lịch.
Còn đối với hợp tác xã Chè La Bằng, từ lâu đã trở thành một trong những mô hình tiêu biểu trong phát triển chuỗi giá trị. Thành lập từ năm 2006, hợp tác xã hiện có 30 ha vùng nguyên liệu, trong đó 17 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, liên kết với gần 200 hộ dân.
Hợp tác xã duy trì việc làm thường xuyên cho 7 lao động và 12 - 15 lao động thời vụ. Người lao động được hướng dẫn từ kỹ thuật hái chè đúng tiêu chuẩn đến sao, vò, sấy, đóng gói và bảo quản.
Bà Nguyễn Thị Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã Chè La Bằng, cho biết hiện nay hợp tác xã đang phát triển nhiều dòng sản phẩm giá trị cao, trong đó có sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP 5 sao.
Bên cạnh sản xuất, La Bằng còn sở hữu vùng chè cổ trên núi Tam Đảo với khoảng 22 cây chè cổ. Ủy ban Nhân dân xã phối hợp với hợp tác xã Chè La Bằng và Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên xác định, đánh dấu các cây chè cổ thuộc địa phận xã. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị về lịch sử và văn hóa, tạo thêm câu chuyện cho thương hiệu chè địa phương.
Hiện nay, La Bằng đang hướng tới phát triển du lịch trải nghiệm tại các vùng chè. Du khách có thể tham quan đồi chè, tìm hiểu quy trình trồng, thu hái, chế biến và thưởng thức trà. Các hoạt động trải nghiệm cũng giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về vùng đất, con người và giá trị của sản phẩm.
Theo ông Hoàng Hải An, địa phương định hướng kết hợp sản xuất chè với du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm, qua đó tạo thêm giá trị cho vùng chè.
Từ một ngành sản xuất chủ yếu dựa vào bán chè nguyên liệu, La Bằng đang từng bước hình thành chuỗi giá trị với nhiều mắt xích từ vùng trồng, chế biến, OCOP, thương hiệu, thương mại điện tử đến du lịch. Với lợi thế về diện tích, truyền thống sản xuất và sản phẩm đặc trưng, cây chè được kỳ vọng tiếp tục là một trong những trụ cột của kinh tế địa phương.
Hướng đi của La Bằng trong thời gian tới không chỉ là tăng diện tích hay sản lượng mà quan trọng hơn là nâng giá trị, đưa sản phẩm từ đồi chè đến thị trường bằng chất lượng, thương hiệu và câu chuyện văn hóa.
Đây cũng là nền tảng để người trồng chè có thêm thu nhập, tạo việc làm tại chỗ và phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững…/.