Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường hướng tới phân định rõ thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương trong thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cấp giấy phép môi trường, đồng thời cụ thể hóa trách nhiệm của chính quyền cấp xã. Việc này được đặt trong yêu cầu bảo đảm nguồn lực thực thi, tăng cường giám sát, duy trì cơ chế điều phối thống nhất đối với các vấn đề môi trường liên tỉnh, liên vùng.
Đây là ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong báo cáo gửi các đại biểu Quốc hội về nội dung tiếp thu, giải trình chi tiết ý kiến thảo luận tại Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Trong đó, nhiều nội dung quan trọng được rà soát, hoàn thiện nhằm tháo gỡ vướng mắc trong phân cấp, phân quyền, bảo đảm tính khả thi khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Rõ thẩm quyền, gắn phân cấp với nguồn lực thực thi
Một trong những vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm là việc phân cấp, phân quyền phải đi đôi với bảo đảm nguồn lực, năng lực thực thi và cơ chế giám sát. Theo đó, tại phiên thảo luận ở Tổ ngày 24/10, có 11 ý kiến đề nghị đánh giá đầy đủ khối lượng công việc tăng thêm, năng lực của cấp tỉnh, cấp xã (nhất là tại các địa bàn miền núi, biên giới); phân định rõ nhiệm vụ giữa các cấp, tránh tình trạng giao nhiệm nhưng nhân lực, kinh phí và điều kiện thực hiện vẫn tập trung ở cấp trên.
Tiếp thu ý kiến đại biểu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã rà soát, hoàn thiện các quy định theo hướng phân định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc phân cấp, phân quyền đồng thời gắn với cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình quản lý, giảm khối lượng công việc và nâng cao hiệu quả thực thi tại cơ sở.
“Về cơ bản, phương án trong dự thảo luật kế thừa các nội dung cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP, được triển khai từ ngày 1/7/2026,” báo cáo nêu rõ.
Đánh giá ban đầu, qua gần 4 tháng thực hiện nghị quyết trên, công tác triển khai các nhiệm vụ bảo vệ môi trường được phân cấp, phân quyền, đặc biệt là giải quyết thủ tục hành chính về môi trường tại địa phương, đã dần đi vào nền nếp. Bộ cũng đã có hướng dẫn chi tiết nhằm tạo thuận lợi cho địa phương, doanh nghiệp thực hiện.
Về nguồn lực tài chính, kinh phí triển khai thi hành luật, trong đó có việc bố trí kinh phí cho các địa phương để thực hiện các nhiệm vụ phân cấp, phân quyền, được bố trí từ ngân sách nhà nước theo quy định. Các nhiệm vụ ưu tiên gồm xây dựng văn bản quy định chi tiết, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đào tạo, tập huấn, kiểm tra, giám sát và xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu. Các nguồn lực hợp pháp khác từ tổ chức, cá nhân trong nước, quốc tế cũng được huy động theo quy định của pháp luật nhằm hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
Đáng chú ý, trách nhiệm của chính quyền cấp xã và người đứng đầu khi được giao thẩm quyền cũng được đại biểu Quốc hội đề nghị quy định rõ, đi kèm cơ chế kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên; đồng thời đề nghị phát huy vai trò của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường trong kiểm tra, điều tra, xử lý vi phạm để bảo đảm hiệu lực thực thi khi chuyển mạnh sang hậu kiểm.
Liên quan đến ý kiến trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết trên cơ sở các quy định có tính nguyên tắc của luật, dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật đã cụ thể hóa trách nhiệm của các cấp chính quyền và trách nhiệm kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên. Dự thảo Nghị định cũng dành riêng một điều quy định cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường trong kiểm tra, xử lý vi phạm.
Theo đó, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường thực hiện chức năng kiểm tra theo thẩm quyền; chủ động tổ chức kiểm tra đột xuất khi có căn cứ theo quy định; đồng thời tham gia phối hợp trong các đoàn kiểm tra do Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác.
Phân cấp nhưng không buông lỏng điều phối
Một nội dung đáng chú ý khác là việc hoàn thiện căn cứ phân định thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM và cấp giấy phép môi trường.
Tại phiên thảo luận ở Tổ ngày 24/10, đại biểu Quốc hội cơ bản đồng tình với chủ trương đẩy mạnh phân cấp cho địa phương bởi đây là cấp trực tiếp theo dõi, giám sát hoạt động của các dự án, cơ sở trên địa bàn. Nhưng với những dự án có tác động liên tỉnh, liên lưu vực hoặc nguy cơ ảnh hưởng môi trường lớn, cần có tiêu chí xác định thẩm quyền và cơ chế điều phối của Trung ương.
Tiếp thu ý kiến, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết dự thảo luật đã bổ sung yếu tố “địa bàn hoạt động” là một trong những căn cứ phân định thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM tại Điều 35 và cấp giấy phép môi trường tại Điều 41. Các căn cứ khác tiếp tục được duy trì gồm mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường và yếu tố bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh.
Trên cơ sở đó, dự thảo Nghị định sẽ bổ sung căn cứ xác định thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM, cấp giấy phép môi trường đối với các dự án đầu tư, cơ sở thuộc nhóm II có phạm vi hoạt động nằm trên địa bàn từ 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên. Những trường hợp này sẽ do cơ quan Trung ương giải quyết.
Đối với hoạt động xả nước thải vào sông, hồ liên tỉnh, cơ chế quản lý cũng được thiết kế theo hướng kết hợp giữa điều phối thống nhất ở cấp Trung ương và kiểm soát nguồn thải tại địa phương.
Theo quy định tại Điều 8 Luật Bảo vệ môi trường hiện hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm quản lý, điều phối chất lượng môi trường nước mặt đối với sông, hồ liên tỉnh thông qua kế hoạch quản lý chất lượng nước được xây dựng, tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Các kế hoạch trên đã đánh giá khả năng chịu tải của nguồn nước, phân vùng xả thải, xác định tổng tải lượng và hạn ngạch xả thải. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM, cấp giấy phép môi trường và kiểm soát từng nguồn thải thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm hoạt động xả nước thải của dự án, cơ sở phù hợp với yêu cầu bảo vệ chất lượng nguồn nước và khả năng chịu tải của sông, hồ liên tỉnh.
Như vậy, việc phân định thẩm quyền đã bảo đảm vai trò quản lý, điều phối thống nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với chất lượng môi trường nước mặt ở phạm vi liên tỉnh; đồng thời thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, cấp giấy phép môi trường và kiểm soát các nguồn thải trên địa bàn.
Đối với ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt có tính chất liên vùng, liên tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng thống nhất với ý kiến đại biểu Quốc hội về sự cần thiết tăng cường phối hợp, liên kết giữa các địa phương để kiểm soát và khắc phục ô nhiễm. Thực tế, ô nhiễm tại các lưu vực sông liên tỉnh và ô nhiễm không khí thường không phụ thuộc vào ranh giới hành chính, thậm chí có thể mang tính chất xuyên biên giới. Vì vậy, nếu chỉ quản lý theo địa giới từng xã, từng tỉnh mà thiếu cơ chế phối hợp sẽ khó giải quyết triệt để các nguồn gây ô nhiễm và hậu quả môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã thiết lập cơ chế quản lý tổng hợp thông qua kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt đối với sông, hồ liên tỉnh (Điều 9) và kế hoạch quốc gia về quản lý chất lượng môi trường không khí (Điều 13). Theo đó, các kế hoạch xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp kiểm soát ô nhiễm và trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cơ quan, địa phương liên quan.
Đáng chú ý, Điều 13 đã quy định việc xây dựng quy chế phối hợp, biện pháp quản lý chất lượng môi trường không khí liên vùng, liên tỉnh. Trên cơ sở đó, Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí theo Quyết định số 2530/QĐ-TTg tiếp tục đặt ra nhiệm vụ xây dựng cơ chế phối hợp liên vùng giữa các địa phương nhằm kiểm soát hiệu quả ô nhiễm không khí.
Như vậy, việc hoàn thiện các quy định về phân cấp, phân quyền trong dự thảo luật không chỉ hướng tới rút ngắn quy trình, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính về môi trường, mà còn đặt ra yêu cầu rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và rõ cơ chế giám sát. Đây là điều kiện quan trọng để chính quyền cấp xã, cấp tỉnh thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời bảo đảm sự thống nhất trong quản lý, kiểm soát và xử lý các vấn đề môi trường vượt ra ngoài phạm vi một địa phương./.
Giảm thiểu ô nhiễm không khí: Kiểm soát chặt nguồn thải, siết trách nhiệm liên vùng
Để giảm ô nhiễm, việc nhận diện chính xác nguồn phát thải, thiết lập cơ chế điều phối thực chất, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả cải thiện chất lượng không khí là những yêu cầu then chốt.