Sông Cả là sông liên quốc gia có diện tích lưu vực khoảng 27.200 km2, bắt nguồn từ Lào, chảy qua Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông, gắn bó mật thiết với đời sống của hàng triệu người dân khu vực Bắc Trung Bộ. Không chỉ cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, đô thị, dân sinh, lưu vực sông này còn sở hữu hệ tài nguyên đa dạng, nhiều tiềm năng phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, kinh tế ven biển và các khu kinh tế động lực.
Do vậy, Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cả thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, chuyển từ tư duy “trị thủy” sang quản trị tổng hợp tài nguyên nước, là nền tảng quan trọng để phát triển bền vững khu vực Bắc Trung Bộ.
Nhiều thách thức về “an ninh nguồn nước”
Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết cơ quan này đang xây dựng dự thảo Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cả thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, hướng tới quản lý tài nguyên nước theo cách tiếp cận tổng thể, liên vùng, bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.
Lưu vực sông Cả gồm 13 sông liên tỉnh, liên quốc gia và 6 sông vùng phụ cận. Trong đó, có tới 51,3% diện tích lưu vực sông Cả thuộc lãnh thổ Việt Nam, chủ yếu ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và Quảng Trị.
Theo báo cáo xây dựng quy hoạch của Trung tâm Quy hoạch điều tra tài nguyên nước miền Bắc, nhu cầu khai thác, sử dụng nước trên lưu vực sông Cả đang gia tăng nhanh cùng quá trình phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Bắc Trung Bộ. Dự kiến, nhu cầu sử dụng nước đến năm 2050 tăng khoảng 1,2 lần so với hiện nay. Trong khi nguồn nước trên lưu vực phân bố không đều. Tổng lượng nước mặt trung bình nhiều năm khoảng 23,87 tỷ m3 nhưng có tới 75% tập trung vào mùa lũ, mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 25%.
Thực trạng trên khiến nhiều khu vực thường đối mặt tình trạng thiếu nước trong mùa khô, đặc biệt tại vùng miền núi cao, vùng sâu, vùng xa.
Không chỉ thiếu nước mùa kiệt (mùa cạn), chất lượng nguồn nước tại nhiều khu vực ở Bắc Trung Bộ cũng đang chịu áp lực lớn.
Báo cáo quy hoạch cho thấy tại một số đoạn sông Cả, sông Hiếu, các thông số ô nhiễm như BOD5 (Biochemical Oxygen Demand hay nhu cầu oxy sinh hóa trong 5 ngày), NH4+ (Ammonium) đã vượt quy chuẩn từ 1,6 - 2,3 lần.
Cùng với ô nhiễm, xâm nhập mặn cũng ngày càng rõ nét ở hạ lưu. Vào mùa khô, nước mặn ảnh hưởng tới khu vực Chợ Tràng, cách cửa biển khoảng 36 km; có thời điểm xâm nhập sâu tới Yên Xuân trên dòng chính sông Cả.
Nhìn xa hơn, theo kịch bản phát thải mức trung bình, đến năm 2050, nhiệt độ trung bình năm trên lưu vực sông Cả có thể tăng khoảng 1,6-1,7 độ C. Trong khi đó, lượng mưa có xu thế biến động mạnh theo mùa.
Kết quả tính toán cho thấy tổng lượng tài nguyên nước trên lưu vực có xu thế tăng nhẹ từ khoảng 23,87 tỷ m3 giai đoạn 1980-2023 lên khoảng 25,07 tỷ m3 vào năm 2050. Tuy nhiên, sự gia tăng này không đồng nghĩa với giảm áp lực thiếu nước do phân bố nguồn nước tiếp tục bất ổn và cực đoan hơn.
Một điểm khác ở lưu vực sông Cả là tính chất xuyên biên giới, bởi có khoảng 5,4 tỷ m3 nước (tương đương 23% tổng lượng nước toàn lưu vực) đến từ Lào. Điều này khiến bài toán bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ dừng ở phạm vi nội vùng mà còn liên quan tới quản lý dòng chảy liên quốc gia.
Chuyển từ “trị thủy” sang quản trị tổng hợp
Trước tình hình trên, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cả thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt ra cách tiếp cận mới. Đó là quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông thay vì chia cắt theo địa giới hành chính hoặc từng ngành riêng lẻ.
Theo định hướng của quy hoạch, tài nguyên nước phải được quản lý thống nhất giữa nước mặt và nước dưới đất, giữa thượng lưu và hạ lưu, bảo đảm điều hòa, phân phối hợp lý giữa các địa phương và các ngành sử dụng nước.
Trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, việc phân phối nguồn nước được ưu tiên theo nguyên tắc rõ ràng. Trong đó ưu tiên cao nhất cho nước sinh hoạt và các ngành sử dụng nước hiệu quả; đồng thời có thể cắt giảm đối với các lĩnh vực tiêu tốn nhiều nước, chưa cấp thiết.
Ngoài ra, một điểm mới đáng chú ý của quy hoạch là việc xây dựng và công bố kịch bản nguồn nước hằng năm, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương chủ động điều hành khai thác, sử dụng nước. Trong điều kiện bình thường, các địa phương sẽ chủ động điều tiết theo quy trình vận hành liên hồ chứa.
Trước đó, chia sẻ tại cuộc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cả thời kỳ 2022-2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi tổ chức gần đây, Giáo sư-Tiến sỹ Đào Xuân Học, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu đặt trọng tâm quy hoạch vào bài toán ngập úng đô thị. Đây là vấn đề đang ngày càng trở nên cấp bách trong bối cảnh biến đổi khí hậu và mưa cực đoan gia tăng.
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, cũng cho rằng giá trị cốt lõi của quy hoạch không chỉ nằm ở các hạng mục công trình mà còn ở việc làm rõ tác động tổng hợp của khai thác tài nguyên nước đối với môi trường, kinh tế và xã hội, đặc biệt là vấn đề xâm nhập mặn, nước biển dâng và các giải pháp ngăn mặn trong tương lai.
Theo ông Chinh, một bản quy hoạch có chiều sâu cần chỉ ra rõ những lợi ích mang lại, đồng thời dự báo đầy đủ cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến môi trường. Do vậy, trong bối cảnh tài nguyên nước là hữu hạn nhưng giữ vai trò then chốt cùng với năng lượng cho sự phát triển của đất nước, quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cả càng cần được xây dựng trên nền tảng tư duy khai thác bền vững, hài hòa giữa phát triển và gìn giữ lâu dài.
Trên cơ sở đó, toàn bộ các số liệu, chuỗi dữ liệu cần được rà soát, cập nhật một cách đầy đủ bởi thực tế cho thấy điều kiện địa hình, lòng dẫn, chế độ mưa lũ và nhu cầu sử dụng nước đã thay đổi rất mạnh, nhất là sau các đợt thiên tai lớn, mưa cực đoan với cường suất cao gấp nhiều lần trước đây./.
Công bố danh mục nguồn nước mặt liên quốc gia và nguồn nước mặt liên tỉnh
Danh mục nguồn nước mặt liên quốc gia và liên tỉnh là căn cứ quan trọng để các bộ, ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ như lập quy hoạch tài nguyên nước, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước...