Đối với sầu riêng, khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm. (Ảnh minh hoạ. Nguồn: TTXVN)

Sầu riêng “luồng xanh”: 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm

Đối với sầu riêng, khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm; toàn bộ quá trình có sự tham gia của doanh nghiệp xuất khẩu, nông hộ, đơn vị giải pháp và cơ quan quản lý.

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 25/5 cho biết thời gian qua, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của bộ đã được đưa vào vận hành thí điểm, trước hết với sầu riêng và đang tiếp tục hoàn thiện để mở rộng sang nhiều mặt hàng nông sản khác. Tính đến nay, cơ quan này ghi nhận có khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm.

Trong thời gian tới, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp với yêu cầu của từng thị trường; hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ đúng quy trình xuất khẩu đồng thời tăng cường phối hợp với địa phương trong việc cấp mã số vùng trồng và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Tiếp tục mở rộng truy xuất nguồn gốc

Theo Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến ngày 25/5, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của bộ này đã có 1.396 dòng dữ liệu của 112 sản phẩm, kết nối 17.987 cơ sở sản xuất tại 14 tỉnh, thành phố.

Trong hệ thống hiện có 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ, 255 vùng trồng và 919 lô hàng, thông qua 4 đơn vị giải pháp công nghệ.

Đối với sầu riêng, thực tiễn thí điểm cho thấy cách làm theo chuỗi, dựa trên dữ liệu, đã tạo ra chuyển biến rõ rệt. Đáng chú ý, lô hàng sầu riêng “luồng xanh” được tổ chức từ vùng trồng, thu hái, đóng gói, vận chuyển đến thông quan chỉ trong khoảng thời gian 6 ngày, rút ngắn đáng kể so với mức 8-11 ngày trước đây, thậm chí có chuyến kéo dài tới 21 ngày.

Lô hàng sầu riêng “luồng xanh” được tổ chức từ vùng trồng, thu hái, đóng gói, vận chuyển đến thông quan chỉ trong khoảng 6 ngày, rút ngắn đáng kể so với mức 8-11 ngày trước đây, thậm chí có chuyến kéo dài tới 21 ngày.

Đến nay, khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm, dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực; toàn bộ quá trình có sự tham gia của doanh nghiệp xuất khẩu, nông hộ, đơn vị giải pháp, cơ quan quản lý.

Theo ông Nguyễn Văn Long - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), kết quả trên không chỉ khẳng định tính khả thi của mô hình “luồng xanh” mà còn cho thấy bước chuyển từ chuỗi cung ứng vận hành rời rạc sang vận hành theo hệ thống, dựa trên dữ liệu và có kiểm soát.

Tuy vậy, ông Long cũng lưu ý quá trình triển khai truy xuất nguồn gốc nông sản vẫn còn nhiều hạn chế như mức độ tham gia chưa đồng đều, dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn hóa; hệ thống pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu chưa hoàn thiện; hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chủ yếu dựa vào hỗ trợ từ doanh nghiệp, gây khó khăn cho việc mở rộng trên phạm vi toàn quốc.

Sầu riêng xuất khẩu được tập kết tại một vựa trái cây . (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Từ thực tế trên, ông Nguyễn Văn Long cho rằng giải pháp quan trọng hiện nay là cần làm rõ trách nhiệm của địa phương trong từng khâu, đặc biệt là việc nhập liệu, cập nhật và xác thực thông tin trên hệ thống; đồng thời tiếp tục mở rộng phạm vi triển khai, không chỉ giới hạn ở một số doanh nghiệp thí điểm mà tạo điều kiện cho tất cả doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia.

Bên cạnh đó, lãnh đạo Vụ Khoa học và Công nghệ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cũng đặc biệt lưu ý đến việc tăng cường hướng dẫn quy trình để bảo đảm dữ liệu đầu vào - đầu ra chính xác, minh bạch, có thể kiểm chứng.

Nhấn mạnh vai trò nòng cốt của đơn vị trong quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói và quy trình sản xuất, ông Huỳnh Tấn Đạt - Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết thời gian tới đơn vị này sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp với yêu cầu của từng thị trường; đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ đúng quy trình xuất khẩu.

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cũng sẽ tăng cường phối hợp với địa phương trong việc cấp mã số vùng trồng và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Ngoài ra, để bảo đảm tính đồng bộ và hiệu lực trong toàn chuỗi, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cũng đề nghị cần quy định rõ tần suất kiểm tra, lấy mẫu và kiểm soát hàng hóa, bảo đảm sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu; qua đó nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong việc đôn đốc, hướng dẫn và hỗ trợ địa phương triển khai truy xuất nguồn gốc theo hướng thực chất, hiệu quả và bền vững.

Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Tăng liên kết chuỗi và quản trị dựa trên dữ liệu

Cho rằng yêu cầu cốt lõi của việc truy xuất nguồn gốc là kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn và minh bạch sản phẩm, tại cuộc họp nghe báo cáo về tình hình triển khai truy xuất nguồn gốc nông sản phục vụ quản lý sản xuất, xuất khẩu và minh bạch hóa thông tin chuỗi cung ứng nông sản, diễn ra trong ngày 25/5, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh: Việc cải cách thủ tục cần được thực hiện trên cơ sở tổ chức lại quy trình một cách khoa học, loại bỏ các khâu trung gian không cần thiết, nhưng vẫn phải giữ vững yêu cầu quản lý và tiêu chuẩn của thị trường.

Ông Hưng cũng lưu ý mọi giải pháp triển khai phải bám sát thực tiễn, tránh áp dụng máy móc hoặc phát sinh thêm rào cản cho doanh nghiệp.

Do đó, đại diện lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu quan điểm rằng truy xuất nguồn gốc cần được xác định là công cụ quản lý hiệu quả, giúp cơ quan chức năng chủ động nắm bắt thông tin, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

Truy xuất nguồn gốc cần được xác định là công cụ quản lý hiệu quả, giúp cơ quan chức năng chủ động nắm bắt thông tin, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, truy xuất nguồn gốc phải được đặt trong tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững, với ba trụ cột liên kết chặt chẽ. Trước tiên, quy hoạch vùng nguyên liệu đóng vai trò nền tảng, bảo đảm phát triển có định hướng, phù hợp với điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường, khắc phục tình trạng mở rộng tự phát, thiếu kiểm soát.

Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất, gắn với mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và toàn bộ chuỗi sản xuất. (Ảnh: Nguyễn Thủy).

Trụ cột thứ hai là quản lý mã số vùng trồng. Theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, đây là điều kiện bắt buộc để tham gia thị trường xuất khẩu chính ngạch, nên đòi hỏi việc cấp, giám sát phải chặt chẽ, gắn với trách nhiệm của địa phương và cơ quan chuyên ngành. Cùng với đó, ông Hưng cũng nhấn mạnh đến việc truy xuất nguồn gốc - công cụ minh bạch hóa toàn bộ chuỗi sản xuất.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngành nông nghiệp cần coi dữ liệu là nền tảng của quản trị hiện đại. Trong đó, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vùng trồng, mã số xuất khẩu và truy xuất nguồn gốc cần được triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc.

Ngoài ra, ông Hưng cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi tư duy phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế nông nghiệp hiện đại, lấy thị trường làm định hướng, tăng cường liên kết chuỗi và quản trị dựa trên dữ liệu.

Trên tinh thần đó, Thứ trưởng Võ Văn Hưng yêu cầu các đơn vị khẩn trương hoàn thiện quy trình, hệ thống và hướng dẫn triển khai; phân công rõ trách nhiệm, bảo đảm thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đi kèm cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá cụ thể trong quá trình thực hiện./.

Tăng cường liên kết chuỗi và quản trị dựa trên dữ liệu. (Ảnh minh họa. Nguồn: Vietnam+)
(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục