Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Nhà quân sự thiên tài, nhà văn hóa lớn

Đạo đức cách mạng và những cống hiến xuất sắc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như những bản hùng ca đẹp nhất và sẽ mãi vững bền cùng mỗi bước đi của dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch tấn công căn cứ Đông Khê, mở màn Chiến dịch biên giới (năm 1950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh đầu tiên, "người Anh Cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những huyền thoại của lịch sử hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.

Không chỉ lừng danh là một vị tướng thiên tài của thời đại, ông còn được biết đến là một vị tướng tài đức, văn võ song toàn, một nhà chính trị vì dân. Đạo đức cách mạng và những cống hiến xuất sắc của Đại tướng mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như những bản hùng ca đẹp nhất và sẽ mãi vững bền cùng mỗi bước đi của dân tộc.

Nhà chiến lược quân sự kiệt xuất

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lê Thủy, tỉnh Quảng Bình, nay là xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị. Chính mảnh đất quê hương giàu truyền thống cách mạng và anh hùng đã hun đúc nên nhân cách "Người Anh Cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.

Đầu những năm bốn mươi của thế kỷ 20, được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh dìu dắt, giao nhiệm vụ, người thanh niên Võ Nguyên Giáp đã tích cực hoạt động cách mạng, bám dân, bám địa bàn, xây dựng cơ sở, mở lớp huấn luyện quân sự tại căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng.

Tháng 12 năm 1944, ông được Lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp quan sát trận địa trước khi phát lệnh nổ súng tấn công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Trên các cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành viên Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, ông đã có những đóng góp quan trọng trong các quyết sách chiến lược của Đảng, chỉ đạo các lực lượng vũ trang, cùng toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sau khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, trong tình thế ngặt nghèo, đồng chí Võ Nguyên Giáp tiếp tục được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng, giao đặc trách vấn đề quân sự, sau đó cử làm Tổng Tư lệnh Quân đội và vinh dự được phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của Quân đội ta (1948).

Đại tướng là người tham mưu cho Trung ương Đảng phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân (dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực), trong đó đặc biệt chú trọng vai trò của bộ đội chủ lực; đồng thời, trực tiếp tổ chức mở rộng, phát triển lực lượng vũ trang cả về số lượng, chất lượng, quy mô tổ chức, trình độ, khả năng chiến đấu; chỉ đạo phát triển chiến tranh du kích, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, tiến hành nhiều trận đánh quan trọng quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đại tướng, bộ đội chủ lực không ngừng phát triển, lớn mạnh, thành lập các đại đoàn, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích, tạo sức mạnh tổng hợp tổ chức các chiến dịch có tính chất quyết định về chiến lược, tiêu hao, tiêu diệt lớn quân địch.

Không chỉ là một nhà cầm quân, ông là vị Đại tướng luôn “biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh.”

Những đức tính và tinh thần đó được thể hiện sâu sắc trong “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời” của Đại tướng, là tiếp tục hay thay đổi phương châm tác chiến trong Chiến dịch Điện Biên Phủ khi giờ nổ súng dự kiến đã cận kề. Cuối cùng, Đại tướng đã lựa chọn thay đổi, từ phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” để đảm bảo chiến thắng và giảm thiểu tổn thất cho quân đội ta.

Với quyết định sáng suốt này, quân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp, giành được thắng lợi cao nhất với sự hy sinh xương máu thấp nhất. Trong tư tưởng của Đại tướng, bảo vệ lực lượng, bảo vệ sinh mạng người lính của mình là mối quan tâm thường trực nhất, vì với ông: "một chiến thắng lớn nhất là chiến thắng có được với số người phải hy sinh nhỏ nhất."

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu Quân đội, cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược. Sớm nhận ra tầm quan trọng của việc chi viện chiến lược cho cách mạng miền Nam, Đại tướng đề xuất với Trung ương và trực tiếp chỉ đạo xây dựng, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, mở Đường Hồ Chí Minh trên biển nhằm tiếp tế hàng quân sự và binh khí kỹ thuật nhanh chóng, kịp thời cho chiến trường miền Nam.

Đại tướng đã cùng tập thể Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu cho Đảng mở Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh để ghìm lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc chiến trường miền Nam (tức Trị Thiên), tạo điều kiện thuận lợi để quân dân miền Nam tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tiêu diệt địch trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn-Gia Định, Huế, Đà Nẵng; chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân xây dựng phương án, tổ chức đánh bại cuộc tiến công đường không chiến lược (1972) của Mỹ, bảo vệ vững chắc bầu trời Hà Nội, Hải Phòng... giữ vững hậu phương chiến lược chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương Đảng họp tháng 11/1974, quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. (Ảnh: TTXVN)

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Đại tướng chỉ đạo Bộ tư lệnh chiến dịch điều Sư đoàn 968 từ Nam Lào về tổ chức nghi binh ở Pleiku (Bắc Tây Nguyên); bí mật cơ động Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A từ Bắc Tây Nguyên về hướng chính (Nam Tây Nguyên) phối hợp với Sư đoàn 316 thần tốc từ miền Bắc vào bố trí thế trận, bất ngờ đột phá Buôn Ma Thuột mở màn chiến dịch, tổ chức cắt giao thông, sẵn sàng đánh địch phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột, làm cho địch hoảng loạn, buộc phải rút chạy khỏi Tây Nguyên.

Đặc biệt, Đại tướng đã nắm chắc thời cơ chiến lược, đề nghị giải phóng sớm miền Nam (1975) so với kế hoạch ban đầu; chỉ đạo mở Chiến dịch Huế-Đà Nẵng; giải phóng quần đảo Trường Sa; thành lập cánh quân phía Đông Sài Gòn phối hợp với 4 cánh quân khác và ra mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa...” kịp thời xốc tới bao vây, tiến công tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đến toàn thắng.

Từ Phay khắt-Nà Ngần tới chiến dịch Điện Biên Phủ-Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khiến cả thế giới nhận ra ông không chỉ có tài cầm quân, mà còn là nhà lý luận quân sự uyên thâm, tác giả hàng đầu về học thuyết quân sự Việt Nam hiện đại.

Tư tưởng và lý luận của ông về vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng Quân đội Nhân dân, về khởi nghĩa vũ trang, về chiến tranh Nhân dân trong thời đại mới, không chỉ được người Việt Nam mà nhiều lãnh tụ và tướng lĩnh trên thế giới nghiên cứu, học tập.

Trong tác phẩm "Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam,” nhà sử học quân sự Mỹ Cecil B.Currey bày tỏ sự kính phục của mình: "Ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX, và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại. Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân.”

Nhà văn hóa lớn

Không chỉ tỏa sáng rực rỡ trong lĩnh vực quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là một trong những nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Ông là một vị tướng hiếm hoi trên thế giới đã thể hiện rõ nhất tính nhân văn của một người làm tướng, lấy võ nghiệp để thực hành triết lý nhân văn và tinh thần cống hiến của đời mình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện với các đại biểu quân đội tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 3 (9/1960). (Ảnh: TTXVN)

Khi là giáo viên dạy môn lịch sử tại trường tư thục Thăng Long, Hà Nội (tháng 5/1939), thầy giáo Võ Nguyên Giáp đã mang bầu nhiệt huyết cách mạng của mình để cùng với đồng nghiệp truyền thụ cho học sinh lòng yêu nước thương dân, khơi dậy sự nhiệt huyết và trách nhiệm với quê hương, đất nước. Khi đất nước bước vào thời kỳ kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, Đại tướng đã nhiều lần phát biểu những ý kiến tâm huyết của mình để chấn hưng nền giáo dục nước nhà.

Ở lĩnh vực báo chí, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà báo chính luận sắc sảo từ khi còn rất trẻ. Bài báo đầu tiên của ông bằng tiếng Pháp được gửi đăng trên tờ báo L’Annam ngày 24/3/1927 do Luật sư Phan Văn Trường ở Sài Gòn làm chủ nhiệm với tựa đề “Đả đảo tên tiểu bạo chúa ở trường Quốc học!” đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với người làm báo lúc bấy giờ.

Lúc đó ông mới 16 tuổi. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936-1939, ông thành lập báo “Hồn trẻ”; cùng một số đồng chí sáng lập và tham gia viết báo cho các tờ báo công khai hồi đó, như “Tiếng dân”, “Tiếng nói của chúng ta”, “Lao động”, “Tiến lên”, “Tập hợp”…; cùng Tổng Bí thư Trường Chinh biên soạn tác phẩm “Vấn đề dân cày,” có giá trị lớn cho công tác chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta lúc bấy giờ.

Trên lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà tổng kết lịch sử hàng đầu của nền sử học đương đại Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham dự vào thế kỷ XX như một con người “làm nên lịch sử” theo cả nghĩa là một nhân vật của lịch sử và một người viết sử.

Bởi lẽ ông vừa là một nhà hoạt động chính trị rồi trở thành một vị tướng hàng đầu trong lịch sử chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam. Rồi chính ông trở thành một nhà tổng kết lịch sử hàng đầu của nền sử học đương đại Việt Nam.

Từ những bài viết về dân cày, về cách mạng tư sản Pháp và nhiều vấn đề có liên quan đến lịch sử trên các tờ báo đến những bài dạy sử trên bục giảng trường Thăng Long cho đến hàng trăm bài nói về lịch sử vào những dịp kỷ niệm các danh nhân hoặc sự kiện lịch sử hay các hội thảo khoa học... đều là những thông tin, tư liệu, tài liệu về lịch sử vô cùng quý giá.

Từ các bài tổng kết chiến tranh đến những công trình lý luận về quân sự, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về hai cuộc kháng chiến và đặc biệt là bộ Tổng tập hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều là những công trình khoa học về những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của nửa sau thế kỷ XX.

Trên lĩnh vực ngoại giao, ông cũng có những đóng góp rất quan trọng. Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đứng trước những khó khăn bộn bề, vận mệnh dân tộc được ví như “ngàn cân treo sợi tóc,” Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều nhiệm vụ đối ngoại đặc biệt, như tiếp xúc với Phái bộ Mỹ mới sang Việt Nam, hay cuộc “chạm trán” với J. Xanhtơny tại phòng lớn của Phủ Toàn quyền, chuẩn bị tiến tới Hiệp định ngày 6/3/1946, cũng như gặp gỡ tướng Lơcléc sau khi ký Hiệp định Sơ bộ, hay cuộc đấu trí và đấu lý ở Hội nghị Đà Lạt… những cuộc gặp gỡ đó, ông đã không bỏ bất kỳ cơ hội đàm phán nào để đi đến hòa bình nhằm thực hiện mục tiêu cao cả: độc lập và thống nhất đất nước.

Với phong trào cách mạng thế giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có những đóng góp rất quan trọng, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, chống áp bức, bóc lột, bất công ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh. Điều này đã được các nhân vật, lực lượng chính trị và xã hội ở nhiều nước thừa nhận.

Sự hòa quyện giữa binh nghiệp và văn hóa, giữa võ và văn đã tạo nên một nhân cách VÕ NGUYÊN GIÁP. Nhân cách đó đã được đúc kết qua câu đối của nhà giáo Hồ Cơ tặng Đại tướng nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của ông: “Văn lo việc nước, Văn thành Võ/ Võ thấu lòng dân, Võ hóa Văn!”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là minh chứng sống động cho sự kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần nhân văn Việt Nam. Ông không chỉ là vị tướng tài ba với những chiến công hiển hách mà còn là tấm gương lớn về đạo đức, lòng nhân ái và tình yêu nước.

Suốt sự nghiệp quân sự của mình, Đại tướng luôn khiêm tốn và bao dung. Ông thường nhấn mạnh rằng mọi chiến thắng đều là công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Nhân dân Việt Nam. Khi được hỏi về vị tướng mà ông kính trọng nhất, Đại tướng đáp: Các vị tướng dù có công lao to lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có Nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ... Vị tướng tôi đánh giá cao nhất là Tướng Nhân dân.

Trải qua hơn 80 năm hoạt động cách mạng phong phú, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại tướng đã nêu cao tấm gương sáng ngời của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, tuyệt đối trung thành, suốt đời tận tụy hy sinh, một lòng, một dạ phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Dù trong lúc cách mạng gặp thuận lợi hay khó khăn, Đại tướng luôn tuyệt đối tin tưởng, thủy chung, son sắt với Đảng, với Nhân dân, đúng như lúc sinh thời Đại tướng đã từng nói: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó.”

Đại tướng luôn thấm nhuần và thực hành mẫu mực tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; luôn giữ gìn phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, lấy "dĩ công vi thượng" và lợi ích của Đảng, của đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết.

Với những cống hiến to lớn, đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, cuộc đời Đại tướng Võ Nguyên Giáp là biểu tượng sáng ngời của một nhân cách văn hóa lớn, thanh cao, liêm khiết, giản dị và bao dung. Tấm gương ấy đã khắc sâu vào lòng nhân dân, được nhân dân tin yêu với danh xưng vị tướng của nhân dân.

Di sản của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, tiếp thêm niềm tin và khát vọng cho các thế hệ Việt Nam trên hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục