Khắc phục "thẻ vàng" IUU: Nghệ An gỡ điểm nghẽn từ hạ tầng, phương tiện kiểm ngư

Máy móc, thiết bị hàng hải xuống cấp, tốc độ khai thác hạn chế đang trở thành một trong những điểm nghẽn đối với khả năng cơ động, bám biển và bảo đảm an toàn khi thực hiện nhiệm vụ.
Tàu cá công suất lớn đang vào cửa biển Lạch Quèn (xã Quỳnh Phú, tỉnh Nghệ An). (Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN)

Trong khi yêu cầu kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) ngày càng cao thì lực lượng kiểm ngư của tỉnh Nghệ An hiện chỉ có 2 tàu kiểm ngư và 2 xuồng công tác, trong đó nhiều phương tiện đã được đưa vào sử dụng từ 20-30 năm trước.

Máy móc, thiết bị hàng hải xuống cấp, tốc độ khai thác hạn chế đang trở thành một trong những điểm nghẽn đối với khả năng cơ động, bám biển và bảo đảm an toàn khi thực hiện nhiệm vụ.

Trong đội tàu kiểm ngư của Nghệ An, KN-701-NA là phương tiện có tuổi đời cao nhất. Tàu được đóng năm 1996 tại Nam Định, dài 20,83 m, rộng 4,4 m, sử dụng 2 máy chính công suất 330 CV.

Sau gần 30 năm hoạt động, tàu đã qua nhiều lần sửa chữa, đại tu nhưng chưa thể khắc phục đồng bộ tình trạng xuống cấp.

Ông Trần Châu Thành, Trưởng phòng Kiểm ngư, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An cho biết: “Sau 30 năm hoạt động, động cơ tàu hiện đã yếu, thường xuyên phát sinh hư hỏng. Khi cần thay thế phụ tùng cũng rất khó vì máy đã quá cũ. Nhiên liệu tiêu hao nhiều, trong khi việc vận hành không còn được như trước,” ông Thành cho biết.

Bên cạnh đó, phần vỏ tàu tại nhiều vị trí đã phải hàn đắp, gia cố nhiều lần. Khi điều kiện thời tiết thuận lợi, tàu vẫn có thể thực hiện nhiệm vụ, nhưng trong điều kiện gió lớn, sóng cao, những hạn chế về kết cấu bắt đầu bộc lộ rõ. Khi tăng tốc, tàu có hiện tượng rung, lắc do kết cấu vỏ đã yếu.

Đáng chú ý hơn, những hạn chế của KN-701-NA còn thể hiện ở hệ thống thiết bị hàng hải. Radar, máy đo độ sâu, thiết bị định vị đã cũ, hoạt động không ổn định. Radar hiện chỉ có thể quét trong phạm vi khoảng 3-4 hải lý.

Đối với một lực lượng thực thi pháp luật trên biển, hạn chế về thiết bị không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật. Khả năng phát hiện mục tiêu, liên lạc với các phương tiện, tiếp nhận thông tin từ đất liền và phối hợp với các lực lượng khác đều phụ thuộc đáng kể vào năng lực của tàu.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Thuyền trưởng tàu KN-701-NA, cho biết trong điều kiện bình thường, khả năng quan sát bằng mắt thường đôi khi còn thuận lợi hơn sử dụng thiết bị.

Hệ thống thông tin liên lạc Icom cũng có thời điểm chập chờn, nhất là khi tàu hoạt động ở khoảng cách xa. Hơn nữa, tàu thuyền của ngư dân đi khai thác hải sản di chuyển tốc độ đạt 9-10 hải lý mà tàu kiểm ngư hết công suất chỉ đạt 7-8 hải lý thì tuần tra biển không đạt hiệu quả.

Thực tế này cho thấy khoảng cách về năng lực cơ động giữa tàu kiểm ngư và tàu cá đang ngày càng rõ. Khi phương tiện cần kiểm tra có tốc độ cao hơn phương tiện thực thi nhiệm vụ, khả năng tiếp cận, bám theo và kiểm soát sẽ bị hạn chế, nhất là trong những tình huống cần xử lý nhanh trên biển.

Trong khi đó, KN-688-NA dù có tuổi đời thấp hơn cũng đã hoạt động khoảng 20 năm. Tàu được đóng năm 2006 tại Hải Phòng, dài 17,5 m, rộng 4,6 m, được trang bị 2 máy chính công suất 550 CV và 2 máy phát điện công suất 60 CV, tốc độ khai thác tối đa hiện nay khoảng 12 hải lý/giờ.

Phương tiện này được Chi cục Kiểm ngư Vùng I thanh lý, bàn giao cho Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An quản lý, sử dụng. Sau khoảng 20 năm khai thác, nhiều máy móc, thiết bị cũng đã xuống cấp, đòi hỏi phải thường xuyên bảo dưỡng, sửa chữa mới có thể duy trì hoạt động.

Một vấn đề cũng rất đáng quan tâm là tại Nghệ An hiện chưa có nơi neo đậu riêng bảo đảm điều kiện cho các phương tiện kiểm ngư. Các tàu đang neo tại cảng cá.

Trong điều kiện tàu cá ra vào cảng với mật độ lớn, nguy cơ va chạm, tác động đến vỏ tàu và các hạng mục bên ngoài là khó tránh khỏi.

Thực tế tại Nghệ An cho thấy, các phương tiện đã có thời gian khai thác dài, nhiều hạng mục máy móc, thiết bị đã xuống cấp. Việc sửa chữa theo từng hạng mục giúp duy trì hoạt động trước mắt nhưng chưa giải quyết căn bản bài toán về tuổi tàu và đồng bộ thiết bị.

Khi phương tiện càng cũ, chi phí duy tu, sửa chữa càng tăng, trong khi nguy cơ hư hỏng đột xuất trong quá trình làm nhiệm vụ vẫn hiện hữu.

Ông Trần Châu Thành, Trưởng phòng Kiểm ngư, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An cho biết thêm: việc rà soát tổng thể hiện trạng từng phương tiện, từ vỏ tàu, máy chính, máy phát điện đến hệ thống thông tin liên lạc, radar, định vị và các thiết bị hàng hải khác là cần thiết.

Trên cơ sở đó, cần phân loại rõ phương tiện, hạng mục còn khả năng sửa chữa, nâng cấp và những hạng mục đã quá cũ, không còn hiệu quả để có phương án đầu tư phù hợp.

Với những thiết bị còn khả năng khai thác, việc bảo dưỡng cần được thực hiện theo kế hoạch, hướng tới sửa chữa đồng bộ thay vì chờ hỏng mới khắc phục.

Đối với phương tiện đã xuống cấp nghiêm trọng, cần nghiên cứu phương án thay thế, từng bước hiện đại hóa đội tàu kiểm ngư nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Cùng đó, việc nghiên cứu, đề xuất các quy định cụ thể về tiêu chuẩn kỹ thuật, niên hạn sử dụng, chế độ bảo dưỡng và sửa chữa đối với tàu, xuồng kiểm ngư địa phương sẽ tạo cơ sở để các địa phương chủ động hơn trong quản lý tài sản, xây dựng kế hoạch đầu tư và sử dụng kinh phí.

Trước thực trạng trên, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An đã xây dựng kế hoạch thay mới các phương tiện tàu, xuồng nhằm đáp ứng yêu cầu công tác và đảm bảo an toàn cho lực lượng kiểm ngư thực hiện nhiệm vụ trên biển.

Khi yêu cầu quản lý nghề cá ngày càng cao, đặc biệt trong nhiệm vụ chống khai thác IUU, một đội tàu đủ khả năng cơ động, thiết bị bảo đảm thông tin và phương tiện an toàn trong điều kiện biển động mới là nền tảng để lực lượng kiểm ngư thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao, đồng hành cùng ngư dân và góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản của tỉnh./.

​

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục