Kiến nghị gỡ khó thuế xăng dầu và hóa đơn điện tử với doanh nghiệp vận tải

Trong quá trình thực hiện quy định về hóa đơn điện tử, nhiều doanh nghiệp vận tải phản ánh việc phải lập hóa đơn theo từng chuyến xe hoặc từng lần cung cấp dịch vụ đã làm gia tăng đáng kể chi phí.
Hiệp hội Taxi Hà Nội cũng kiến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu hoàn thiện quy định về hóa đơn điện tử. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Qua tổng hợp ý kiến của các doanh nghiệp hội viên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vận tải, Hiệp hội Taxi Hà Nội vừa có văn bản gửi Bộ Tài chính kiến nghị về chính sách thuế đối với xăng dầu và một số quy định về hóa đơn điện tử đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải.

Nhìn nhận chi phí nhiên liệu hiện chiếm khoảng 35-38% trong cơ cấu giá thành vận tải, là yếu tố đầu vào có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ông Nguyễn Công Hùng, Chủ tịch Hiệp hội Taxi Hà Nội đánh giá việc nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế đối với xăng dầu là chủ trương tích cực nhằm giảm chi phí đầu vào cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, Hiệp hội Taxi Hà Nội đề nghị Bộ Tài chính đánh giá toàn diện tác động của việc điều chỉnh các loại thuế đối với doanh nghiệp vận tải đang thực hiện kê khai thuế theo phương pháp khấu trừ.

“Trong trường hợp việc điều chỉnh các loại thuế làm giảm hoặc không còn một số khoản thuế đầu vào được khấu trừ, doanh nghiệp có thể không được hưởng đầy đủ lợi ích từ việc giảm giá xăng dầu, trong khi chi phí nhiên liệu vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá thành. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của chính sách hỗ trợ và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải,” ông Hùng đánh giá.

Do đó, Hiệp hội Taxi Hà Nội đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động của từng phương án chính sách để bảo đảm mục tiêu giảm chi phí nhiên liệu cho nền kinh tế nhưng đồng thời không làm phát sinh bất lợi đối với doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, qua đó tạo môi trường kinh doanh ổn định, bình đẳng và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển.

Khẳng định hoàn toàn đồng tình với chủ trương chuyển đổi số, hiện đại hóa công tác quản lý thuế và tăng cường tính minh bạch trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ông Hùng cho rằng, trong quá trình thực hiện quy định về hóa đơn điện tử theo Nghị định 123 và các văn bản hướng dẫn, nhiều doanh nghiệp vận tải phản ánh việc phải lập hóa đơn theo từng chuyến xe hoặc từng lần cung cấp dịch vụ đã làm gia tăng đáng kể chi phí.

Để đáp ứng quy định này, hầu hết doanh nghiệp đều phải đầu tư hoặc thuê mới hệ thống phần mềm hóa đơn điện tử; nâng cấp, tích hợp giữa phần mềm điều hành vận tải, phần mềm tính cước, phần mềm kế toán và hệ thống hóa đơn điện tử; đồng thời phát sinh chi phí lưu trữ dữ liệu, duy trì hệ thống, kết nối với cơ quan thuế và phí phát hành hóa đơn theo số lượng giao dịch.

Đối với các doanh nghiệp vận tải có hàng nghìn đến hàng chục nghìn chuyến xe mỗi ngày, theo ông Hùng, chi phí thuê phần mềm, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, kết nối dữ liệu và phát hành hóa đơn hằng năm có thể lên tới hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng, tạo thêm áp lực tài chính, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, mục tiêu quản lý thuế hoàn toàn có thể được bảo đảm thông qua các giải pháp công nghệ và dữ liệu điện tử mà không nhất thiết làm gia tăng chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp.

Trên cơ sở đó, Hiệp hội Taxi Hà Nội đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, đánh giá tác động thực tiễn và xem xét sửa đổi hoặc hướng dẫn theo hướng linh hoạt hơn đối với lĩnh vực vận tải và các ngành dịch vụ có tần suất giao dịch lớn; cho phép áp dụng cơ chế lập hóa đơn tổng hợp theo ngày hoặc theo chu kỳ đối với các giao dịch đáp ứng đầy đủ điều kiện quản lý, vừa bảo đảm minh bạch, chống thất thu thuế, vừa giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, Hiệp hội Taxi Hà Nội cũng kiến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu hoàn thiện quy định về hóa đơn điện tử theo hướng phù hợp với đặc thù của ngành vận tải, giảm chi phí tuân thủ nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý thuế và tăng cường đối thoại, lấy ý kiến các hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp trước khi ban hành hoặc sửa đổi các chính sách có tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm bảo đảm chính sách sát thực tiễn, khả thi và phát huy hiệu quả cao nhất./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục