Mở dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Pháp về công nghệ không gian

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng những kết quả đạt được từ chương trình VNREDSat-1 tạo nền tảng để hợp tác Việt-Pháp trong công nghệ không gian bước sang giai đoạn mới.

Thu thập và xử lý ảnh tại Trạm thu ảnh vệ tinh. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)
Thu thập và xử lý ảnh tại Trạm thu ảnh vệ tinh. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm chính thức Cộng hòa Pháp và tham dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris từ ngày 7-12/9/2026.

Chuyến thăm được kỳ vọng tạo thêm động lực cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam-Pháp, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá là những lĩnh vực hợp tác giàu tiềm năng.

Trao đổi với phóng viên TTXVN về kết quả và triển vọng hợp tác khoa học, công nghệ với Pháp, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng những kết quả đạt được từ chương trình VNREDSat-1 đang tạo nền tảng để hợp tác trong công nghệ không gian bước sang giai đoạn mới, hướng tới phát triển các hệ thống vệ tinh thế hệ tiếp theo, tăng cường đào tạo, chuyển giao công nghệ và từng bước nâng cao năng lực công nghệ của Việt Nam.

VNREDSat-1 tạo nền tảng cho bước tiến mới

Trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ, vệ tinh VNREDSat-1 là một trong những kết quả tiêu biểu của hợp tác khoa học công nghệ Việt Nam-Pháp.

Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái cho rằng, VNREDSat-1 cần được nhìn nhận không chỉ như một vệ tinh quan sát Trái Đất đầu tiên của Việt Nam, mà quan trọng hơn là một chương trình xây dựng năng lực quốc gia về công nghệ vệ tinh.

Vệ tinh được phóng thành công ngày 7/5/2013 và hệ thống được chính thức bàn giao cho Việt Nam vận hành, khai thác từ tháng 9/2013. Đến năm 2026, tức là bước sang năm hoạt động thứ 14, VNREDSat-1 vẫn tiếp tục cung cấp dữ liệu, trong khi tuổi thọ thiết kế ban đầu là 5 năm. Đây là một kết quả rất đáng ghi nhận về cả độ bền của hệ thống và năng lực vận hành của đội ngũ kỹ thuật Việt Nam.

Năng lực đầu tiên và cũng rõ nhất là năng lực vận hành một hệ thống vệ tinh tương đối hoàn chỉnh. VNREDSat-1 không chỉ có phần vệ tinh trên quỹ đạo mà còn bao gồm hệ thống điều khiển, trạm thu nhận và các thành phần xử lý dữ liệu mặt đất.

Trong giai đoạn 2011-2013, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Astrium, nay là Airbus Defence and Space, tổ chức chương trình đào tạo chuyên sâu cho nhóm kỹ sư Việt Nam tại Pháp và Việt Nam.

Sau khóa học, các kỹ sư được cấp chứng chỉ vận hành hệ thống, thực hành thiết kế, vận hành hệ thống cũng như phân tích và xử lý các tình huống kỹ thuật thực tế liên quan đến công nghệ vệ tinh, trạm mặt đất. Sau quá trình chuyển giao, đội ngũ kỹ sư của Viện đã có khả năng tự chủ vận hành và khai thác hiệu quả VNREDSat-1. Hơn nữa, năng lực này không dừng ở việc tuân theo một quy trình vận hành được chuyển giao.

Trong quá trình hoạt động dài hơn rất nhiều so với tuổi thọ thiết kế, hệ thống đã có những thời điểm phát sinh vấn đề kỹ thuật. Chính đội ngũ của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam với trí thông minh sắc bén, tư duy linh hoạt và khả năng thích ứng cao, không thua kém bất kỳ nhân sự công nghệ nào trên thế giới đã chủ động xử lý và phối hợp khắc phục để duy trì hoạt động ổn định của hệ thống. Đây là một bước phát triển quan trọng từ “biết vận hành” tiến tới “hiểu hệ thống, nhận diện vấn đề và có khả năng xử lý những tình huống kỹ thuật phát sinh."

Năng lực thứ hai, theo Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái, là làm chủ chu trình khai thác dữ liệu viễn thám. Việt Nam đã hình thành một hệ thống từ đặt yêu cầu chụp, điều khiển vệ tinh, thu nhận dữ liệu đến xử lý, lưu trữ và cung cấp sản phẩm ảnh.

Dữ liệu VNREDSat-1 được sử dụng cho quản lý tài nguyên và môi trường, theo dõi thiên tai, nghiên cứu khoa học, đào tạo, phát triển kinh tế-xã hội và những nhiệm vụ liên quan đến quốc phòng, an ninh.

Riêng từ năm 2020 đến nay, hệ thống đã cung cấp gần 30.000 cảnh ảnh vệ tinh. Điều đó có ý nghĩa rất lớn vì một quốc gia có vệ tinh riêng sẽ chủ động về thời điểm chụp, khu vực quan sát và nguồn dữ liệu cần thiết cho những nhiệm vụ ưu tiên.

Năng lực thứ ba là hình thành đội ngũ và nền tảng kỹ thuật cho những chương trình vệ tinh tiếp theo. Những kỹ sư được đào tạo qua VNREDSat-1 không chỉ phục vụ một dự án; tri thức, kinh nghiệm vận hành, hệ thống mặt đất và phương pháp quản trị một nhiệm vụ không gian đã trở thành vốn năng lực của Việt Nam. Chính quá trình này giúp chúng ta xác định rõ hơn đâu là những khâu đã có thể tự thực hiện, đâu là những công nghệ lõi còn phải tiếp tục nghiên cứu và tiếp nhận.

Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái nhấn mạnh tự chủ vận hành VNREDSat-1 không đồng nghĩa với việc Việt Nam đã làm chủ toàn bộ công nghệ thiết kế và chế tạo vệ tinh quan sát Trái đất. VNREDSat-1 là bước nền tảng rất quan trọng; để tiến tới tự chủ công nghệ vũ trụ của Việt Nam trong giai đoạn tới chúng ta cần phải đi sâu hơn vào thiết kế hệ thống, tải hữu ích (Payload), điện tử vệ tinh, phần mềm bay, tích hợp-lắp ráp-kiểm thử và các công nghệ trạm mặt đất.

Chính vì vậy, nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống Emmanuel Macron từ ngày 25-27/5/2025, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Airbus Defence and Space và Cơ quan Vũ trụ Pháp (CNES) đã ký Tuyên bố ý định (DoI) nhằm đẩy mạnh hợp tác lâu dài trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ và vệ tinh quan sát Trái Đất.

Tuyên bố có ý nghĩa như một bước chuyển sang giai đoạn hợp tác mới: ba bên thống nhất nghiên cứu khả năng phát triển hệ thống quan sát Trái đất thế hệ tiếp theo, tham khảo các công nghệ tiên tiến phát triển trong chương trình CO3D (Chòm sao Quang học 3D), đồng thời đặt vấn đề đào tạo và chuyển giao công nghệ trong chương trình tương lai.

ttxvn-ve-tinh-vnredsat-2.jpg
Điều khiển ăngten thu phát tín hiệu tại Trạm thu ảnh vệ tinh (Đài Viễn thám Trung ương). (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Trên nền tảng hiệu quả của VNREDSat-1, Việt Nam và Pháp đang tiếp tục thúc đẩy hợp tác cho giai đoạn tiếp theo, trong đó có đề xuất VNREDSat-2. Hai bên đã trao đổi về phương án công nghệ, nguồn lực và lộ trình triển khai, với định hướng không chỉ có một vệ tinh thế hệ mới mà còn nâng cao mức độ tham gia và năng lực công nghệ của phía Việt Nam. Đây sẽ là bước tiếp nối quan trọng từ vận hành, khai thác sang từng bước tham gia sâu hơn vào phát triển hệ thống vệ tinh.

Ở tầm nhìn dài hạn, Việt Nam hướng tới phát triển và từng bước làm chủ vệ tinh, chùm vệ tinh quan sát Trái Đất cùng hạ tầng dữ liệu không gian; Để đạt mục tiêu đó, hợp tác với các quốc gia có thế mạnh về công nghệ vũ trụ như Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc và các đối tác phù hợp khác là hết sức quan trọng.

“Nguyên tắc của chúng tôi là hợp tác có chọn lọc, gắn chuyển giao công nghệ với đào tạo nhân lực và sự tham gia trực tiếp của các nhà khoa học, kỹ sư Việt Nam, qua đó rút ngắn quá trình tiến tới tự chủ công nghệ," Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái cho hay.

Từng bước làm chủ công nghệ vũ trụ

Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái đánh giá công nghệ vũ trụ là một lĩnh vực rất đặc thù; đòi hỏi tích hợp nhiều ngành khoa học và công nghệ ở trình độ cao, từ cơ khí chính xác, quang học, điện tử, điều khiển, viễn thông, vật liệu, phần mềm đến khoa học dữ liệu; đồng thời yêu cầu hạ tầng thử nghiệm lớn, quy trình kiểm soát chất lượng rất nghiêm ngặt và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ sản phẩm. Vì vậy, đối với một quốc gia đang phát triển năng lực vũ trụ như Việt Nam, hợp tác quốc tế giúp rút ngắn khoảng cách công nghệ, tiết kiệm chi phí đầu tư, giải mã và tiến tới làm chủ công nghệ.

Kinh nghiệm từ VNREDSat-1 cho thấy hợp tác với Pháp đã tạo ra ba giá trị đồng thời. Trước hết là tiếp cận một hệ thống công nghệ thực sự, chứ không chỉ tiếp cận qua lý thuyết. Thứ hai là hình thành một đội ngũ chuyên môn có khả năng duy trì năng lực qua thời gian. Thứ ba là tạo ra một hệ sinh thái khai thác dữ liệu phục vụ những nhu cầu cụ thể của đất nước.

Điều rất đáng chú ý trong hợp tác hiện nay với CNES và Airbus là các bên không chỉ bàn về một vệ tinh mới, mà Tuyên bố ý định năm 2025 đã đặt vấn đề một cách tổng thể bao gồm đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển ứng dụng dữ liệu trong định hướng hợp tác.

“Đây là cách tiếp cận mà chúng tôi cho rằng phù hợp cho giai đoạn phát triển mới của đất nước: Mỗi dự án quốc tế phải đồng thời tạo ra sản phẩm công nghệ và nhân lực công nghệ không những đủ để tiếp thu mà còn có khả năng tiếp tục phát triển năng lực công nghệ nội sinh," Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái đánh giá.

ttxvn-giao-su-tien-sy-tran-hong-thai.jpg
Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: Thu Phương/TTXVN)

Về phía Việt Nam, theo Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái, định hướng này cũng hoàn toàn phù hợp với Chiến lược phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vũ trụ đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định 169/QĐ-TTg. Chiến lược đặt mục tiêu từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo và tích hợp cảm biến quang học, radar cho vệ tinh quan sát Trái Đất; có khả năng lắp ráp, tích hợp và kiểm thử vệ tinh nhỏ độ phân giải cao, siêu cao ở trong nước; đồng thời làm chủ công nghệ trạm mặt đất, điều khiển và thu nhận dữ liệu. Chiến lược đặt mục tiêu phát triển khoảng 300 chuyên gia và 3.000 kỹ sư triển khai trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vũ trụ.

Việc chuyển từ tiếp nhận sang làm chủ không thể thực hiện bằng một bước nhảy, mà cần một lộ trình bài bản. Trong các chương trình vệ tinh tiếp theo, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ hướng tới việc đội ngũ Việt Nam chủ động tham gia sâu và ngay từ đầu, từ khâu xác định nhiệm vụ, thiết kế hệ thống, các phiên bản thiết kế, phát triển và kiểm thử một số phân hệ, phần mềm, hệ thống mặt đất và khai thác dữ liệu; từ đó từng bước nâng tỷ lệ công việc mà phía Việt Nam có thể tự thực hiện. Những nội dung chuyển giao phải đi kèm đào tạo dài hạn, tài liệu kỹ thuật, thực hành trực tiếp và năng lực kiểm chứng độc lập.

Một yêu cầu quan trọng khác là bảo đảm tính kế thừa giữa các chương trình vệ tinh. Kinh nghiệm, đội ngũ, hạ tầng mặt đất và năng lực khai thác dữ liệu đã tích lũy từ VNREDSat-1 cần được chuyển hóa thành đầu vào cho thế hệ hệ thống quan sát Trái đất tiếp theo, để mỗi dự án mới thực sự nâng thêm một bậc năng lực công nghệ của Việt Nam.

Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái đặc biệt coi trọng lắp ráp, tích hợp và kiểm thử (Assembly, Integration, and Test). Đây là khâu kết nối nhiều chuyên ngành và là môi trường tốt để đào tạo một thế hệ kỹ sư thực sự hiểu vệ tinh như một hệ thống. Việt Nam cũng cần đi sâu vào một số thành phần mà chúng ta có khả năng tạo lợi thế, chẳng hạn phần mềm điều khiển, xử lý ảnh, trí tuệ nhân tạo cho dữ liệu viễn thám, hệ thống mặt đất, một số cảm biến và tải hữu ích phù hợp với yêu cầu của Việt Nam.

Một dự án chuyển giao công nghệ chỉ thực sự thành công khi sau khi chuyên gia nước ngoài rút đi, đội ngũ Việt Nam có thể tự vận hành, tự xử lý vấn đề, tự cải tiến và từng bước thiết kế thế hệ tiếp theo.

Mục tiêu không phải là sở hữu thêm một vệ tinh; mục tiêu cao hơn là sở hữu năng lực tạo ra và phát triển công nghệ vệ tinh. Đây là tinh thần mà Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam muốn theo đuổi trong hợp tác với Pháp: Từ mua sắm hệ thống sang đồng phát triển; từ đào tạo vận hành sang đào tạo thiết kế; và từ chuyển giao một sản phẩm sang hình thành một năng lực công nghệ bền vững của Việt Nam.

Đánh giá chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp và tham dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam-Pháp, được xây dựng trên nền tảng tin cậy chính trị và những gắn kết sâu sắc giữa hai nước, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái cho rằng chuyến thăm cũng góp phần khẳng định rõ ý chí và quyết tâm của Việt Nam trong hành trình làm chủ không gian vũ trụ, một lĩnh vực ngày càng có ý nghĩa chiến lược trong kỷ nguyên mới.

Giáo sư, Tiến sỹ Trần Hồng Thái tin tưởng chuyến thăm sẽ mở ra những cơ hội hợp tác thực chất trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát huy thế mạnh của Pháp, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và công nghệ không gian, gắn với nhu cầu phát triển mới của Việt Nam. Đây cũng là cơ hội để Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tăng cường hợp tác với các đối tác Pháp trong nghiên cứu, đào tạo và phát triển công nghệ, qua đó tiếp nhận tri thức mới, nâng cao năng lực nghiên cứu và từng bước làm chủ các công nghệ phục vụ những bài toán phát triển của đất nước./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân rời Hà Nội, lên đường thăm Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân lên đường thăm Nga, Pháp

Sáng 7/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Hà Nội, lên đường thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, Pháp từ ngày 7-12/9/2026, theo lời mời của Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân rời Hà Nội, lên đường thăm Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân lên đường thăm cấp Nhà nước tới Nga, thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ

Ngày 7/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội lên đường thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam-Myanmar năm 2026. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)

Cộng hưởng nguồn lực, mở rộng không gian hợp tác

Các hoạt động đối ngoại được trải rộng trên các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cho thấy tinh thần “cộng hưởng” đang được cụ thể hóa qua từng lĩnh vực, từng đối tác và từng hoạt động hợp tác.