Từ nhà văn hóa trở thành không gian số cộng đồng, từ chiếc điện thoại thông minh giúp giải quyết thủ tục hành chính đến những phiên livestream đưa nông sản vươn xa, mô hình “Thôn số” tại Lào Cai đang làm thay đổi cách người dân tiếp cận công nghệ và tổ chức đời sống.
Đây là bước đi cụ thể của tỉnh trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đưa chuyển đổi số vượt khỏi phạm vi cơ quan, công sở để trở thành động lực phát triển ngay từ từng thôn, bản.
Đưa tiện ích số đến gần người dân
Những tháng gần đây, Nhà văn hóa thôn 6, xã Yên Bình không chỉ là nơi tổ chức sinh hoạt cộng đồng mà còn trở thành “Không gian số cộng đồng,” phục vụ nhu cầu tiếp cận công nghệ của người dân.
Không gian này được nâng cấp, trang bị hệ thống mạng internet không dây (Wifi) miễn phí, thiết bị phục vụ họp trực tuyến hai chiều và khu vực hướng dẫn thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến.
Sự thay đổi ấy giúp người dân từng bước tiếp cận các dịch vụ số ngay tại nơi sinh sống, giảm thời gian và chi phí đi lại, nhất là đối với những thủ tục trước đây phải đến trực tiếp trụ sở xã để giải quyết.
Có mặt tại nhà văn hóa thôn để làm thủ tục chứng thực hồ sơ, ông Hoàng Văn Nam, người dân thôn 6, xã Yên Bình, phấn khởi chia sẻ: “Trước đây, mỗi lần làm giấy tờ thủ tục hành chính, tôi phải chạy xe lên tận trụ sở xã cách vài cây số, chờ đợi đến lượt. Nay ra ngay nhà văn hóa thôn, tôi được các cháu trong tổ công nghệ số cộng đồng hướng dẫn quét mã, nộp hồ sơ qua tài khoản VNeID trên điện thoại, vừa nhanh gọn, vừa không mất công đi lại. Thông báo của thôn hay việc họp bàn về xóm làng giờ cũng cập nhật liên tục qua nhóm Zalo, ai cũng nắm được ngay.”
Từ những tiện ích thiết thực, chuyển đổi số từng bước đi vào đời sống thường ngày, thay vì chỉ dừng lại ở việc trang bị thiết bị hay triển khai các ứng dụng công nghệ. Người dân có thêm điều kiện tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động cộng đồng và sử dụng dịch vụ công trực tuyến thuận tiện hơn.
Nếu tại thôn 6, xã Yên Bình, mô hình “Thôn số” tạo chuyển biến trong tiếp cận dịch vụ hành chính và kết nối cộng đồng, thì tại thôn 4, xã Bát Xát, công nghệ số đang mở thêm hướng phát triển kinh tế cho người dân.
Chị Hoàng Thủy Tiên, chủ cơ sở kinh doanh thịt sấy tại thôn 4, xã Bát Xát, cho biết trước đây, cơ sở chủ yếu bán hàng theo phương thức truyền thống, dựa vào khách quen hoặc mang sản phẩm ra chợ huyện. Sau khi được địa phương và cán bộ kỹ thuật hướng dẫn tạo mã QR truy xuất nguồn gốc, đăng bài giới thiệu trên trang số của xã và tập phát sóng trực tiếp (livestream) trên mạng xã hội, sản phẩm thịt sấy của gia đình đã tiếp cận khách hàng tại nhiều tỉnh, thành phố khác. Việc thanh toán chuyển khoản cũng thuận tiện hơn, góp phần tăng doanh số bán hàng.
Thực tế tại hai địa phương cho thấy chuyển đổi số không chỉ giúp cải thiện phương thức quản lý, phục vụ người dân mà còn tạo cơ hội để các cơ sở sản xuất nông thôn mở rộng thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh. Khi được hỗ trợ đúng cách, người dân có thể tận dụng những công cụ công nghệ tương đối đơn giản để quảng bá sản phẩm, minh bạch nguồn gốc và kết nối trực tiếp với khách hàng.
Theo đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai, việc thí điểm mô hình “Thôn số” tại hai xã Yên Bình và Bát Xát đã đạt kết quả khả quan trên cả 4 trụ cột: hạ tầng số, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Đến nay, thôn 6, xã Yên Bình, đã hoàn thành 21/21 chỉ tiêu và được công nhận đạt chuẩn “Thôn số mức nâng cao.” Thôn 4, xã Bát Xát, hoàn thành 21/21 tiêu chí cơ bản, 15/21 tiêu chí nâng cao và 12/23 tiêu chí thôn thông minh. Đây là những kết quả bước đầu, cung cấp cơ sở thực tiễn để tỉnh tiếp tục hoàn thiện cách làm, xây dựng tiêu chí phù hợp và tổ chức nhân rộng mô hình.
Lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả làm thước đo
Từ thực tiễn triển khai tại cơ sở, một trong những kinh nghiệm quan trọng được các địa phương rút ra là phải gắn chuyển đổi số với nhu cầu thiết thực của người dân. Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi giúp giải quyết những vấn đề cụ thể trong đời sống, từ thực hiện thủ tục hành chính, thanh toán hóa đơn đến quảng bá và tiêu thụ nông sản.
Ông Hoàng Hợp, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Yên Bình, cho biết bài học lớn nhất trong triển khai mô hình “Thôn số” là phải gắn công nghệ với lợi ích của người dân. Chuyển đổi số ở nông thôn không thể làm theo phong trào mà phải bắt đầu từ những nhu cầu hằng ngày. Khi nhận thấy sự thuận tiện, tiết kiệm thời gian và chi phí, người dân sẽ dần vượt qua tâm lý e dè, chủ động tham gia.
Đặc biệt, vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng có ý nghĩa then chốt. Cán bộ trẻ, am hiểu công nghệ cần trực tiếp “đi từng ngõ, gõ từng nhà, cầm tay thao tác số” trên chính thiết bị của người dân, giúp họ từng bước hình thành kỹ năng và thói quen sử dụng các dịch vụ số.
Tại xã Bát Xát, công tác tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng số cũng được triển khai theo hướng gần gũi, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Bát Xát, cho biết địa phương đã huy động các lực lượng tổ chức nhiều đợt tập huấn trực tiếp và lưu động cho hơn 1.200 lượt cán bộ, giáo viên, học sinh và nhân dân trên địa bàn.
Với phương châm “dễ làm trước, khó làm sau,” người dân được hướng dẫn từ những thao tác cơ bản như cài đặt định danh điện tử VNeID mức 2, thanh toán tiền điện, nước qua tài khoản đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) ở mức cơ bản để thiết kế hình ảnh, quảng bá nông sản đặc sản địa phương trên không gian mạng.
Cách làm này góp phần thu hẹp khoảng cách về kỹ năng số giữa các nhóm dân cư, đồng thời tạo điều kiện để người dân chủ động tiếp cận những công cụ mới.
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đây cũng là yêu cầu quan trọng: chuyển đổi số phải gắn với nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ, phát huy vai trò chủ thể của người dân và tạo ra những thay đổi có thể nhận thấy trong đời sống.
Tuy nhiên, quá trình thí điểm cũng bộc lộ những khó khăn cần được tháo gỡ để mô hình phát triển đồng bộ và bền vững hơn.
Tại xã Yên Bình, kinh phí đầu tư cho các thiết chế công nghệ số như hệ thống họp trực tuyến, camera giám sát đòi hỏi nguồn lực lớn, trong khi nguồn thu ngân sách địa phương và khả năng đóng góp của người dân còn hạn chế.
Bên cạnh đó, dữ liệu y tế từ các bệnh viện tuyến trên liên thông về “Sổ sức khỏe điện tử” trên ứng dụng VNeID chưa đồng bộ, khiến thông tin lịch sử khám, chữa bệnh của người dân có lúc bị ngắt quãng.
Một vấn đề khác là tiêu chí yêu cầu công dân từ 15 tuổi trở lên phải có tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản giao dịch điện tử chưa phù hợp với đặc thù khu vực nông thôn, vùng cao.
Nhóm công dân từ 15-18 tuổi phần lớn là học sinh trung học phổ thông, chưa có nguồn thu nhập, trong khi phụ huynh còn e ngại việc con em sớm tiếp cận dịch vụ tài chính trực tuyến.
Trước thực tế này, Ủy ban Nhân dân xã Yên Bình đã kiến nghị cơ quan chuyên môn cấp trên tham mưu điều chỉnh độ tuổi đánh giá tiêu chí tài chính số lên từ đủ 18 tuổi trở lên, nhằm phản ánh sát hơn nhu cầu thực tế và đặc điểm dân cư.
Những vướng mắc trên cho thấy việc xây dựng “Thôn số” không chỉ là câu chuyện đầu tư hạ tầng hay đưa công nghệ vào đời sống, mà còn đòi hỏi cơ chế phù hợp, sự đồng bộ về dữ liệu, nguồn lực triển khai và tiêu chí đánh giá sát với điều kiện từng địa bàn. Đây là những vấn đề cần được giải quyết trong quá trình hoàn thiện mô hình, nhất là khi mở rộng triển khai tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Nhân rộng “Thôn số,” tạo nền tảng cho nông thôn hiện đại
Để đưa chuyển đổi số cấp cơ sở đi vào chiều sâu, đồng thời tạo hành lang triển khai thống nhất, ngày 31/8/2026, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai đã ban hành Kế hoạch số 411/KH-UBND về xây dựng “Thôn số,” “Thôn thông minh” trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030, với tổng kinh phí dự kiến khoảng 365 tỷ đồng.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2026-2027, tỉnh đặt mục tiêu 100% các xã, phường hoàn thành việc rà soát hiện trạng và ban hành kế hoạch triển khai; mỗi xã có trên 30% số thôn, tổ dân phố đạt chuẩn “Thôn số” mức cơ bản. Toàn tỉnh phấn đấu có 25 xã, phường hoàn thành xây dựng ít nhất 1 “Thôn số” mức nâng cao và 1 “Thôn thông minh.”
Trong giai đoạn 2028-2030, Lào Cai phấn đấu có 100% xã, phường hoàn thành xây dựng các thôn, tổ dân phố đạt chuẩn “Thôn số” mức cơ bản, tương ứng 551 thôn; tối thiểu 20% thôn đạt chuẩn mức nâng cao, tương ứng 320 thôn; và tối thiểu 10% thôn đạt chuẩn “Thôn thông minh,” tương ứng 160 thôn.
Các mục tiêu này thể hiện định hướng đưa chuyển đổi số lan tỏa rộng khắp, từ những địa bàn đã có điều kiện thuận lợi đến các khu vực còn khó khăn về hạ tầng, nguồn lực và kỹ năng sử dụng công nghệ.
Việc triển khai theo lộ trình cũng tạo cơ sở để các địa phương chủ động rà soát điều kiện thực tế, xác định nhu cầu đầu tư, huy động nguồn lực và lựa chọn cách làm phù hợp.
Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai, “Thôn số” không phải là một danh hiệu đạt được rồi dừng lại, mà là phương thức hoạt động mới của cộng đồng dân cư. Chuyển đổi số cấp cơ sở phải chuyển mạnh từ tư duy “có mô hình” sang “có người sử dụng”, từ “có thiết bị” sang “có hiệu quả thực chất.”
Quan điểm này đặt ra yêu cầu xuyên suốt trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW tại địa phương: lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo, đồng thời bảo đảm công nghệ được ứng dụng phù hợp với điều kiện thực tế. Bên cạnh hạ tầng và thiết bị, cần chú trọng đào tạo kỹ năng số, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường liên thông dữ liệu và hỗ trợ người dân sử dụng công nghệ một cách an toàn, hiệu quả.
Từ những kết quả bước đầu tại Yên Bình và Bát Xát đến kế hoạch nhân rộng trên toàn tỉnh, mô hình “Thôn số” đang mở ra hướng tiếp cận thiết thực trong đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số về cơ sở. Những thay đổi từ nhà văn hóa thôn, chiếc điện thoại thông minh đến hoạt động kinh doanh nông sản cho thấy chuyển đổi số có thể bắt đầu từ những việc gần gũi nhất, miễn là đáp ứng đúng nhu cầu của người dân.
Với lộ trình triển khai cụ thể, sự phối hợp của các cấp, ngành và sự tham gia chủ động của cộng đồng, Lào Cai hướng tới xây dựng những khu dân cư có hạ tầng số đồng bộ, chính quyền phục vụ hiệu quả, hoạt động kinh tế ngày càng gắn với nền tảng số và người dân có đủ kỹ năng để thụ hưởng các tiện ích công nghệ.
Qua đó, mô hình “Thôn số” không chỉ góp phần cụ thể hóa mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW, mà còn tạo nền tảng để thu hẹp khoảng cách số giữa vùng cao và đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh và bền vững./.
Chuyển đổi số bứt phá làng nghề và kinh tế nông thôn
Làn sóng số hóa toàn diện cùng tư duy đổi mới sáng tạo đang giúp kinh tế nông thôn và các làng nghề truyền thống bứt phá mạnh mẽ, tạo sinh kế bền vững và đưa nông sản Việt vươn xa trong kỷ nguyên số.