Từ một lễ hội Khmer, mở cánh cửa vào “kho báu” 54 dân tộc

Một lễ hội Khmer, những điệu múa, tiếng nhạc ngũ âm và câu chuyện của 54 cộng đồng dân tộc đang cùng mở ra một hướng đi mới ở Đồng Mô: biến “kho báu” văn hóa thành những trải nghiệm sống động.

Lễ hội Thắk Côn của đồng bào Khmer thành phố Cần Thơ được tái hiện tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh: CTV/Vietnam+)
Lễ hội Thắk Côn của đồng bào Khmer thành phố Cần Thơ được tái hiện tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Cuối tuần qua, Lễ hội Thắk Côn của đồng bào Khmer thành phố Cần Thơ được tái hiện tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội). Không chỉ đưa một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đến gần công chúng Thủ đô, hoạt động này gợi mở một câu chuyện lớn hơn: làm thế nào để những giá trị văn hóa của 54 dân tộc trở thành những trải nghiệm sống động, có khả năng níu chân du khách và tạo ra giá trị mới cho điểm đến.

Khoảng 60 phút tái hiện lễ hội đưa người xem đi qua những nghi thức đặc trưng như Cúng Krông Pali, Đăk Bath, dâng Sla Tho Dừa cầu an, múa hát dâng lên Kru Kôông-Chey, cùng các nghi lễ Phật giáo. Trong tiếng nhạc ngũ âm, trống Sa dăm và điệu Rom Vong, di sản không còn là một khái niệm nằm trên hồ sơ công nhận mà hiện diện qua âm thanh, nghi lễ, nghệ nhân và những câu chuyện được cộng đồng trao truyền.

Việc tái hiện Lễ hội Thắk Côn tại Làng, vì thế còn cho thấy cách một di sản có thể trở thành chất liệu để kết nối cộng đồng, giáo dục văn hóa và tạo trải nghiệm cho du khách.

Khi di sản ra ngoài không gian trình diễn

Điểm đáng chú ý nằm ở cách Lễ hội Thắk Côn được đặt trong một chuỗi hoạt động rộng hơn. Trong hai ngày 22 và 23/8, không gian Chùa Khmer trở thành nơi diễn ra chương trình “Về miền Tây” với nhạc ngũ âm, múa Rom Vong, đờn ca tài tử, trải nghiệm quết cốm dẹp và giới thiệu ẩm thực miền Tây.

Cách làm này mang đến hướng tiếp cận mới đối với với tài nguyên văn hóa: thay vì chỉ đưa du khách đến xem một tiết mục, điểm đến có thể tạo ra nhiều lớp trải nghiệm để người tham gia nghe, nhìn, thưởng thức và trực tiếp tương tác với văn hóa.

Đó cũng là hướng mà Làng đang từng bước thử nghiệm trong quá trình xây dựng sản phẩm. Với 16 nhóm đồng bào dân tộc thường xuyên sinh hoạt tại đây, cùng hàng chục lượt cộng đồng, hơn 1.000 đồng bào và khoảng 200 nghệ nhân, tiểu thương từ nhiều địa phương tham gia hoạt động mỗi năm, Làng đã có một nguồn tài nguyên đặc biệt: chính những chủ thể văn hóa đang hiện diện và thực hành văn hóa.

1787465086306-5704014977284414337-g7829569755739109377-9a1bd2f2f01c32fc5cabaec73142ab2a.jpg
1787465086290-5704014977284414337-g7829569755739109377-d9ad2c7f06d6b599542a283d46b78f4e.jpg
1787465086209-5704014977284414337-g7829569755739109377-ee54d405c07f1ff5ac2b0da83084beb0.jpg
1787465086024-5704014977284414337-g7829569755739109377-f4e931d940c79f25ddb656ee255b4b6f.jpg
Tái hiện di sản trong không gian văn hóa góp phần kết nối cộng đồng, du khách. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Giám đốc Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam, bà Ngô Thị Hồng Thắm, cho biết Làng đang phát triển các sản phẩm theo hướng tăng tính tương tác, để du khách không chỉ tham quan mà còn khám phá không gian văn hóa, trải nghiệm tại các trạm, chặng theo chủ đề.

Từ định hướng đó, những sản phẩm như “Dấu chân bản làng,” “Về với đại ngàn Tây Nguyên” dành cho học sinh, sinh viên đã được triển khai. Sản phẩm “Nhịp sống bản làng” kéo dài 2 ngày 1 đêm dự kiến đưa vào khai thác trước dịp 2/9, kết hợp lưu trú, mặc trang phục dân tộc, đạp xe hoặc xe đạp điện, ngâm chân thư giãn, thưởng thức ẩm thực và trải nghiệm không gian văn hóa buổi tối.

Nếu Thắk Côn cho thấy sức hút của một lễ hội khi được đặt trong không gian trải nghiệm, thì những sản phẩm mới lại mở rộng câu chuyện theo hướng khác: văn hóa có thể trở thành lý do để du khách ở lại lâu hơn.

Đây là điểm quan trọng đối với một nơi vốn có lợi thế đặc biệt nhưng cũng đứng trước bài toán: làm sao để du khách không chỉ “đến Làng,” mà thực sự có lý do để dành nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày cho nơi này.

Doanh nghiệp lữ hành cũng bắt đầu nhìn thấy khoảng trống đó. Phó Giám đốc Công ty Lữ hành Hanoitourist, ông Trần Hữu Bình cho biết đơn vị đang đề xuất xây dựng thêm sản phẩm dựa trên giá trị văn hóa các dân tộc. Những hành trình như “Hành trình khám phá sắc màu văn hóa Việt” hay tour nửa ngày “Sắc màu đại ngàn giữa lòng Hà Nội” cho thấy tài nguyên của Làng có thể được tổ chức thành những sản phẩm với thời lượng và đối tượng khách khác nhau.

1787465330305-5704014977284414337-g7829569755739109377-922700ac194dc26d601f197e6574b7ec.jpg
1787465314263-5704014977284414337-g7829569755739109377-0a453a95314f850d7d07c0274b3f6717.jpg
1787465316579-5704014977284414337-g7829569755739109377-d59dca7618f5d948c26ff57f24f743e9.jpg
Lễ hội Thắk Côn mang đến một không gian giàu giá trị văn hóa của cộng đồng Khmer ở Cần Thơ. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Nhưng để văn hóa thực sự trở thành sản phẩm du lịch, điều quan trọng không phải là đưa càng nhiều yếu tố vào một tour càng tốt. Giá trị nằm ở cách kể chuyện và mức độ tham gia của du khách. Một nghi lễ, một nghề thủ công, một điệu múa hay món ăn chỉ thực sự trở thành trải nghiệm đáng nhớ khi du khách hiểu được câu chuyện phía sau và cảm nhận được sự hiện diện của cộng đồng đã tạo nên nó.

Quan điểm này cũng tương đồng với tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh, động lực và trụ cột của phát triển; đồng thời nhấn mạnh việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, truyền thống và hiện đại.

Với Làng, điều đó có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể: để nghệ nhân trở thành người kể chuyện, để cộng đồng trở thành chủ thể của trải nghiệm và để mỗi giá trị văn hóa có thêm một đời sống mới bên cạnh đời sống truyền thống.

54 sắc màu, một không gian kinh tế mới

Từ câu chuyện của một lễ hội Khmer, bài toán của Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam vì thế không dừng ở việc có thêm bao nhiêu chương trình. Câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để hệ thống tài nguyên văn hóa ấy kết nối thành một chuỗi giá trị đủ rộng, từ bảo tồn, trình diễn đến sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng.

Đây cũng chính là hướng phát triển dài hạn mà Làng đang hướng tới khi đặt mục tiêu trở thành hạt nhân hình thành “Cực tăng trưởng du lịch, công nghiệp văn hóa phía Tây Thủ đô,” gắn với Ba Vì, Sơn Tây và các điểm đến lân cận.

1787480645498-5704014977284414337-g7829569755739109377-58d35dd93f63c0f97d78e585ec5806be.jpg
"Bài toán" đặt ra cho làng là làm thế nào để hệ thống tài nguyên văn hóa đậm bản sắc có thể kết nối thành một chuỗi giá trị đủ rộng, từ bảo tồn, trình diễn đến sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Theo định hướng, mô hình phát triển được xây dựng trên ba trung tâm chức năng: Trung tâm Bảo tồn và Trình diễn văn hóa 54 dân tộc Việt Nam; Trung tâm Công nghiệp Văn hóa các dân tộc Việt Nam; Trung tâm Du lịch Văn hóa và Kinh tế đêm. Ba không gian này, nếu vận hành hiệu quả, có thể tạo thành một vòng kết nối thay vì những hoạt động rời rạc.

Bảo tồn tạo ra chất liệu, sáng tạo biến chất liệu thành sản phẩm, du lịch đưa sản phẩm đến với thị trường. Và nguồn thu từ thị trường, theo logic đó, lại có thể tạo thêm nguồn lực cho việc duy trì các hoạt động văn hóa.

Đây cũng là điểm khiến câu chuyện của Làng "gặp gỡ" tư duy mới trong Nghị quyết 80: phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là bảo vệ những gì đã có, mà phải tạo ra hệ sinh thái để văn hóa có khả năng sáng tạo, sản xuất, lưu thông và tạo giá trị. Nghị quyết đặt mục tiêu đẩy mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái sáng tạo và phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa giàu bản sắc.

Ông Trần Hữu Bình cho rằng cơ quan quản lý cần giữ vai trò “nhạc trưởng” trong hệ sinh thái, từ xác định thị trường mục tiêu, chuẩn hóa hạ tầng, dịch vụ đến xây dựng chính sách giá phù hợp từng nhóm khách.

Hanoitourist cũng đề xuất ứng dụng thực tế ảo, thực tế tăng cường và nội dung số để tăng khả năng tiếp cận, diễn giải di sản; đồng thời hình thành hội đồng tư vấn có sự tham gia của chuyên gia văn hóa, nghệ nhân bản địa và doanh nghiệp lữ hành.

1787480638740-5704014977284414337-g7829569755739109377-501c43211007d4719d87c2bbf684cc05.jpg
Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam có nhiều giá trị để phát triển hơn từ những "kho tàng" văn hóa của 54 dân tộc phía sau cánh "cổng làng." (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Những đề xuất này cho thấy một yêu cầu khác đang đặt ra: Làng không thể phát triển chỉ bằng những gì diễn ra bên trong hàng rào của mình. Lợi thế của Làng nằm ở vị trí cách trung tâm Hà Nội khoảng 40 km, có khả năng kết nối với không gian du lịch phía Tây, đặc biệt là trục Hồ Tây - Ba Vì và “Vòng cung xanh tâm linh” của Thủ đô.

Nếu được kết nối tốt với các điểm đến văn hóa, lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng trong khu vực, Làng có thể trở thành một điểm trung chuyển của các dòng khách thay vì một điểm đến biệt lập.

Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội, ông Trần Trung Hiếu, các vấn đề về huy động đầu tư vào những khu chức năng, xây dựng hệ thống sản phẩm, liên kết với điểm đến phía Tây và quảng bá thị trường cần sự tham gia đồng thời của cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp.

Như vậy, “cực tăng trưởng” không nên được hiểu đơn giản là thêm một điểm du lịch lớn trên bản đồ Hà Nội. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kéo các dòng tài nguyên đang phân tán vào cùng một mạng lưới: văn hóa của các cộng đồng, sản phẩm làng nghề, OCOP, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực, dịch vụ lưu trú, trải nghiệm và các hoạt động sáng tạo.

Từ một nghi lễ Khmer được tái hiện bên Chùa Khmer ở Đồng Mô, câu chuyện vì thế mở rộng dần ra toàn bộ “ngôi nhà chung” của 54 dân tộc. Thắk Côn cho thấy một di sản có thể được kể lại bằng trải nghiệm. Những tour mới cho thấy trải nghiệm có thể tạo ra lý do để du khách ở lại. Còn định hướng phát triển công nghiệp văn hóa lại mở ra câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để những câu chuyện ấy kết nối thành một hệ sinh thái có sức sống lâu dài?

1787480633969-5704014977284414337-g7829569755739109377-6fa7ab88a0d00b0d6d5430492f8e4a55.jpg
Đồng bào dân tộc Mường tái hiện lại một nét đẹp văn hóa truyền thống trong không gian Làng. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Nếu làm được điều đó, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ không chỉ là nơi lưu giữ một “Việt Nam thu nhỏ.” Đó có thể trở thành nơi những giá trị văn hóa được tiếp tục sống, được kể bằng ngôn ngữ mới và bước vào đời sống kinh tế mà vẫn giữ được căn cốt của cộng đồng đã tạo nên chúng.

Đó cũng là cách một “ngôi nhà chung” có thể trở thành điểm tựa mới cho du lịch và công nghiệp văn hóa phía Tây Thủ đô./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Gốm Thanh Hà kiêu hãnh và bền bỉ hơn 500 năm

Gốm Thanh Hà kiêu hãnh và bền bỉ hơn 500 năm

Lễ hội làng gốm Thanh Hà (Hội An) không chỉ tri ân tổ nghề mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của một di sản văn hóa truyền thống đã tồn tại xuyên suốt 5 thế kỷ.

Đặc sắc lễ hội làng gốm Thanh Hà 500 năm tuổi

Đặc sắc lễ hội làng gốm Thanh Hà 500 năm tuổi

Lễ giỗ tổ nghề gốm Thanh Hà (Hội An) mùng 10/7 âm lịch tái hiện không gian văn hóa rực rỡ, nơi nghệ nhân phô diễn kỹ thuật chuốt gốm thủ công, nặn tò he mộc và thi nấu cơm niêu trên bếp lửa củi.

Người dân vui lễ hội tại Sơn La. (Ảnh: TTXVN phát)

Mộc Châu sẵn sàng cho Tuần Văn hóa-Du lịch năm 2026

Đây là lần đầu tiên sự kiện Tuần Văn hóa-Du lịch được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh, hướng tới tạo dấu ấn mới trong dịp Quốc khánh 2/9 và quảng bá hình ảnh Mộc Châu đến du khách trong nước và quốc tế.