Bước chuyển chiến lược trong phát triển kinh tế nhà nước giai đoạn mới

Nghị quyết số 79 không chỉ là một nghị quyết về kinh tế nhà nước đơn thuần mà còn là "tuyên ngôn định hướng" cho con đường phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm tới.
Bốc dỡ hàng hóa trên Cảng Cát Lái (phường Cát Lái) thuộc hệ thống Cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước mới được Bộ Chính trị ban hành không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài của khu vực doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt lại vai trò và phương thức dẫn dắt của khu vực kinh tế này trong mô hình tăng trưởng mới.

Việc ban hành nghị quyết ngay trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, mang một ý nghĩa chiến lược quan trọng.

Đây không chỉ là một nghị quyết về kinh tế nhà nước đơn thuần mà còn là "tuyên ngôn định hướng" cho con đường phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm tới và phù hợp với tầm nhìn 2045.

Bảo đảm tự chủ chiến lược

Nghị quyết số 79-NQ/TW khẳng định sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, Nghị quyết cũng chỉ ra rằng, chính sách pháp luật về kinh tế nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn phát triển của nền kinh tế. Quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả, chưa gắn với yêu cầu hạch toán kinh tế đầy đủ, còn lãng phí, thất thoát, chưa thể hiện rõ vai trò chủ đạo, chi phối trong nền kinh tế quốc dân.

Các doanh nghiệp nhà nước - lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu...

Để phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế nhà nước, góp phần hiện thực hoá mục tiêu đưa đất nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả một số chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nhà nước.

Xuyên suốt Nghị quyết số 79-NQ/TW là quan điểm nhất quán: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế.

Nghị quyết đặt ra lộ trình đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Bên cạnh đó, xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong; dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Về tổ chức tín dụng nhà nước, phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản.

Về đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục xã hội hoá mạnh mẽ cung cấp các dịch vụ công; tiếp tục tinh gọn đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế nhà nước sẽ trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế.

Mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.

(Ảnh: Vietnam+)

Xác định kinh tế nhà nước theo tư duy mới

Tiến sỹ Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Nghị quyết số 79-NQ/TW đã xác định rõ vai trò của Nhà nước và kinh tế nhà nước theo tư duy mới. Điều quan trọng nhất của nghị quyết là xác định quan điểm về kinh tế nhà nước; đồng thời làm rõ chức năng và từng cấu phần của kinh tế Nhà nước.

Kinh tế nhà nước bao gồm nhiều cấu phần như đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước; vùng biển; vùng trời; không gian ngầm; các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng; ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước… và nhà nước phải xác định rõ vai trò, chức năng cũng như cách phát huy hiệu quả từng cấu phần đó trong phát triển.

Một điểm rất quan trọng khác là Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước chủ đạo, chứ không phải doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước không chỉ hoạt động kinh doanh đơn thuần, mà phải cùng nhà nước kiến tạo phát triển, có trách nhiệm dẫn dắt, tạo đột phá trong những ngành, lĩnh vực then chốt của đất nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi số của đất nước. Đây là một bước chuyển rất quan trọng về nhận thức.

“Nghị quyết số 79-NQ/TW lần đầu tiên đặt kinh tế nhà nước đúng nghĩa với tất cả các cấu phần của nó, chứ không chỉ nói về doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết cũng làm rõ vì sao kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bởi với những cấu phần của kinh tế nhà nước như các lĩnh vực như đất đai, hạ tầng, vùng trời, vùng biển, dự trữ quốc gia… thì Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư và quản lý. Đây là sự tổng kết lý luận và thực tiễn rất sâu sắc sau nhiều thập niên đổi mới,” Tiến sỹ Trần Du Lịch chia sẻ.

Theo Giáo sư Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, trước đây, khi nói đến kinh tế nhà nước, chúng ta thường đồng nhất với doanh nghiệp nhà nước.

Nghị quyết 79-NQ/TW đã mở rộng và làm rõ hơn phạm vi này. Kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước mà còn bao trùm các nguồn lực chiến lược do Nhà nước nắm giữ và chi phối, như đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng, ngân sách, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính ngoài ngân sách, tổ chức tín dụng nhà nước và hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập.

Cách tiếp cận này rất quan trọng vì nó chuyển trọng tâm từ “quản doanh nghiệp” sang “quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả tổng thể nguồn lực quốc gia.”

Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt, nhưng không phải là toàn bộ kinh tế nhà nước. Điều này giúp chúng ta có cái nhìn hệ thống hơn và tránh tình trạng dồn mọi kỳ vọng hay phê phán vào riêng khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Tiến sĩ Bùi Quý Thuấn, Trưởng ban Nghiên cứu, Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam bày tỏ, đặt trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết 79-NQ/TW đóng vai trò như một bộ khung cả về lý luận lẫn thực tiễn để cụ thể hóa các nội dung kinh tế trong Văn kiện Đại hội.

Nghị quyết tái khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, nhưng điểm mới nằm ở tư duy phát triển: không còn nhấn mạnh sự can thiệp hành chính, mà chuyển sang vai trò dẫn dắt và kiến tạo thông qua hiệu quả hoạt động, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ.

Đồng thời, nghị quyết cũng trực diện xử lý những điểm nghẽn kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, đặc biệt là cơ chế quản lý vốn và mức độ tự chủ của doanh nghiệp nhà nước.

Việc triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW trong thực tế sẽ tạo cơ sở quan trọng để Đảng có thêm căn cứ đề ra các mục tiêu tăng trưởng mang tính đột phá, bao gồm cả những mục tiêu tham vọng như tăng trưởng hai con số từ năm 2026 trong các nghị quyết của Đại hội XIV.

Tiến sỹ Bùi Quý Thuấn khẳng định Nghị quyết 79-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về cách thức Nhà nước tham gia và điều hành nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.

Thành công của nghị quyết sẽ không chỉ được đo bằng số lượng doanh nghiệp hay dự án, mà bằng mức độ lan tỏa, dẫn dắt và đóng góp thực chất của kinh tế nhà nước đối với tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.

Để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 79-NQ/TW, Giáo sư Trần Thọ Đạt cho rằng, điều kiện then chốt nằm ở thể chế hóa và tổ chức thực hiện. Nếu không nhanh chóng cụ thể hóa nghị quyết bằng luật, nghị định, cơ chế thực thi rõ ràng thì nghị quyết rất dễ dừng lại ở chủ trương.

Bên cạnh đó, phải đổi mới tư duy quản lý, chuyển từ “sợ sai” sang “quản trị rủi ro,” có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Cuối cùng, cần đo lường hiệu quả doanh nghiệp nhà nước bằng các chỉ tiêu cụ thể, minh bạch, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả thực hiện.

Đồng quan điểm với Giáo sư Trần Thọ Đạt, Tiến sỹ Trần Du Lịch cho hay, Nghị quyết 79-NQ/TW muốn đi vào cuộc sống thì phải được cụ thể hóa bằng luật, nghị định, thậm chí sửa cả thông tư, với những quy định rõ ràng, minh bạch.

Do đó Quốc hội phải thể chế hóa, rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật, sửa đổi một số luật; trong đó, có Luật Quản lý vốn kinh doanh nhà nước, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kể cả cho phép đầu tư mạo hiểm.

Ví dụ những mô hình như thí điểm thuê Tổng giám đốc, CEO với các điều kiện cụ thể ra sao cần phải có quy định rõ... thì nghị quyết của Đảng mới đi vào cuộc sống./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục