Việc Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) lần thứ 18 tại Ấn Độ vào cuối tuần này trong vai trò Nước đối tác của BRICS không chỉ đem đến những đóng góp thiết thực cho hội nghị, mà còn tạo thêm dư địa cho việc thúc đẩy hợp tác song phương giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại New Delhi, Giáo sư Reena Marwah - giảng viên Đại học Delhi, Tổng thư ký Hiệp hội các học giả châu Á - cho rằng sự hiện diện của Thủ tướng Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 mang ý nghĩa rất quan trọng và kịp thời, bởi BRICS đã mở rộng đáng kể cả về quy mô lẫn phạm vi hợp tác. Khối quy tụ 11 nước thành viên cùng 10 nước đối tác, tạo thành một mạng lưới gồm 21 quốc gia.
Trong năm nay khi Ấn Độ làm Chủ tịch BRICS đã diễn ra khoảng 350 cuộc họp, trong đó có 22 cuộc họp cấp bộ trưởng, tập trung vào các lĩnh vực cụ thể như thương mại, năng lượng, tài chính, cơ sở hạ tầng, truyền thông và y tế. Các cuộc họp này diễn ra trong bối cảnh trật tự toàn cầu đang phân mảnh và nhiều thể chế được hình thành từ giữa thế kỷ 20 không còn đáp ứng đầy đủ những yêu cầu mới. Đây chính là thời điểm các quốc gia cần tái định vị, tăng cường đối thoại và xây dựng những hình thức hợp tác mới, trong đó phải đặt con người và lợi ích phát triển vào vị trí trung tâm.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục chịu sức ép và các mạng lưới sản xuất đang tái cấu trúc, Giáo sư Reena Marwah bày tỏ rất ấn tượng với việc Việt Nam hiện giữ vị trí rất quan trọng trong các chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị khu vực cũng như toàn cầu.
Theo bà, Việt Nam đã chứng minh được năng lực tăng trưởng mạnh mẽ, khả năng hội nhập sâu rộng và duy trì đường lối đối ngoại độc lập. Do đó, Việt Nam có thể đóng góp cho BRICS trong nhiều vấn đề với tư cách là một nước đối tác, và ngược lại, các thành viên của khối có thể học hỏi từ kinh nghiệm phát triển, hội nhập và kết nối chuỗi cung ứng của Việt Nam.
Ngoài ra, Giáo sư Reena Marwah cũng đề cập đến một khía cạnh quan trọng khác mà theo bà là có sự tương đồng giữa BRICS và Việt Nam. Đó là Việt Nam theo đuổi trật tự thế giới đa cực, trong đó các quốc gia hợp tác trên cơ sở bình đẳng và không phải chọn phe. Đây cũng là tinh thần mà BRICS hướng tới: tạo diễn đàn để các nền kinh tế đang phát triển có tiếng nói bình đẳng hơn trong quản trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, bà Reena Marwah cho rằng Việt Nam còn có thể phát huy vai trò cầu nối giữa BRICS với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vốn đã có mức độ hội nhập nội khối khá cao và có dư địa lớn trong thúc đẩy thương mại với BRICS.
Kinh nghiệm của Việt Nam trong ASEAN có thể góp phần thúc đẩy BRICS tháo gỡ các rào cản thuế quan và phi thuế quan, qua đó tạo thêm lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Không chỉ thế, với mạng lưới liên kết rộng lớn nhờ tham gia nhiều khuôn khổ kinh tế lớn như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam còn có khả năng đóng vai trò cầu nối giữa các nền kinh tế phát triển ở phương Bắc với các nước ở phương Nam toàn cầu.
Ở chiều ngược lại, BRICS cũng có thể mang lại cho Việt Nam những cơ hội mới về tài chính và phát triển. Khối đã xây dựng các cơ chế như Thỏa thuận Dự trữ Dự phòng (RCA) và Ngân hàng Phát triển Mới (NDB), có thể hỗ trợ các nước tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn, thúc đẩy thanh toán bằng đồng nội tệ và tài trợ cho các dự án phát triển ở mức chi phí hợp lý.
Theo Giáo sư Reena Marwah, thông qua BRICS, Việt Nam có thể đa dạng hóa hơn nữa thị trường, nguồn vốn và các đối tác phát triển. Với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ trương không phụ thuộc quá mức vào bất kỳ quốc gia nào, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát huy vai trò kết nối trong một cấu trúc quốc tế ngày càng đa cực.
Liên quan đến cơ hội tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường, Giáo sư Reena Marwah cho rằng hai nước có rất nhiều dư địa hợp tác. Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu cụ thể, trong đó có mục tiêu nâng thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2030.
Hai bên hiện cùng xử lý nhiều vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn, kiểm dịch thực vật và các rào cản phi thuế quan. Nếu tiếp tục tháo gỡ những nút thắt này, hai nước có thể tạo động lực đáng kể cho thương mại song phương như mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường đối với nhiều sản phẩm nông nghiệp, qua đó ngày càng đưa quan hệ song phương phát triển theo hướng thực chất và bổ trợ lẫn nhau.
Bên cạnh đó, năng lượng xanh cũng được xem là một lĩnh vực có tiềm năng lớn trong quan hệ hai nước. Ấn Độ là một trong những nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới nhưng đồng thời đang đầu tư mạnh vào năng lượng xanh. Việt Nam cũng đang thúc đẩy chuyển đổi xanh. Vì vậy, hai nước có thể mở rộng hợp tác về năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và các giải pháp phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng.
Ngoài ra, còn một số lĩnh vực hợp tác tiềm năng khác được Giáo sư Reena Marwah nhắc tới là dược phẩm và y tế, hạ tầng số, thanh toán số, công nghệ thông tin, mở rộng cơ sở hạ tầng và cách thức khai thác nguồn lực từ NDB cho các dự án phát triển ở mỗi nước.
Bà nhấn mạnh Ấn Độ đã có nhiều dự án nhận tài trợ từ NDB nên có thể chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển mạnh hệ thống cảng biển. Ngược lại, Ấn Độ có thể học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam trong việc hội nhập sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo góc nhìn của Giáo sư Reena Marwah, dù có quy mô dân số nhỏ hơn Ấn Độ rất nhiều nhưng Việt Nam lại có mức độ hội nhập quốc tế rất cao, đã xây dựng được mô hình sản xuất hướng mạnh ra xuất khẩu và kết nối sâu với mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Kết thúc buổi phỏng vấn, Giáo sư Reena Marwah cho rằng Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 có thể tạo ra dấu mốc quan trọng không chỉ đối với BRICS mà còn đối với quan hệ Việt Nam-Ấn Độ.
Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam sẽ đăng cai Hội nghị Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào năm 2027, bà tin tưởng Việt Nam sẽ có lợi thế đặc biệt trong việc tạo thêm cả sự kết nối giữa APEC, ASEAN và BRICS. Việt Nam không chỉ là “điểm kết nối” mà còn trở thành “chất xúc tác” tạo ra sự hội tụ và sức mạnh tổng hợp giữa các cơ chế hợp tác khác nhau./.