Lão nghệ nhân dân gian Hoàng Trọng Kha, 96 tuổi, đàn và hát văn tại Chương trình trải nghiệm: “Hát văn thi-Một thời vang bóng.” (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)

Nhắc đến di sản phi vật thể Hà Nội là nhắc đến nghệ thuật trình diễn độc đáo, các làng nghề truyền thống, lễ hội dân gian đặc sắc, tập quán xã hội riêng có, lối đối nhân xử thế hào hoa, thanh lịch... gắn với niềm tự hào của người dân Thủ đô. Những thứ làm nên “hồn cốt” của Hà Nội này, tuy có thăng trầm theo thời gian nhưng vẫn được cộng đồng khơi dậy, bồi đắp từ những tâm huyết và đam mê. Dù vậy, sức sống của di sản phi vật thể Hà Nội không chỉ phụ thuộc cái nôi nuôi dưỡng của cộng đồng mà cần cả sự góp sức từ nhiều phía.

Bài 1: Thăng trầm những vốn cổ

Hiếm có địa phương nào sở hữu kho tàng di sản văn hóa phi vật thể lớn như Hà Nội với chiều dài lịch sử cả nghìn năm. Nhưng trong suốt dọc dài thời gian ấy, do những biến đổi của các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhiều di sản có nguy cơ mai một rất cao và đang tiếp tục chịu sức ép của cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan.

Nhiều di sản cần bảo vệ khẩn cấp

Di sản phi vật thể Hà Nội không chỉ phong phú về số lượng mà có lịch sử lâu đời, như lễ hội Gióng ra đời từ thế kỷ thứ XI, gắn với lịch sử hình thành của Thăng Long-Hà Nội. Trải qua quá trình phát triển cùng sự biến thiên của thời gian, có di sản đã mai một, nhiều di sản có nguy cơ biến mất cần được bảo vệ khẩn cấp. Ngoài ca trù được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, Hà Nội còn có 11 di sản văn hóa phi vật thể khác cần được bảo vệ khẩn cấp và gần 100 di sản cần ưu tiên bảo vệ.

Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp nằm trong loại hình di sản truyền khẩu và nghệ thuật trình diễn dân gian, điển hình như: Hát tuồng cổ thôn Cốc Thượng, xã Hoàng Diệu (huyện Chương Mỹ), hát trống quân xã Khánh Hà (huyện Thường Tín), trò vật lầu ở làng Thao Chính, thị trấn Phú Xuyên (huyện Phú Xuyên), tiếng lóng Đa Chất, xã Đại Xuyên (huyện Phú Xuyên)… Đây là các di sản không được thực hành thường xuyên, những người nắm giữ di sản đang ở độ tuổi cao và không có đối tượng trao truyền, môi trường sống thay đổi, không còn không gian và những điều kiện thực hành.

[Cơ hội tìm hiểu về các dòng tranh dân gian Việt Nam tại Văn Miếu]

Tiếng lóng Đa Chất, xã Đại Xuyên (huyện Phú Xuyên) là giá trị văn hóa tinh thần hiếm gặp ở những cộng đồng xã hội khác. Tiếng lóng xuất phát từ đời sống và công việc của những người thợ đóng cối xay lúa trong thôn, họ sáng tạo ra ngôn ngữ này và sử dụng nó trong cộng đồng làm nghề. Đây thực chất là hình thức nói lái đi của một số từ để giao tiếp riêng với nhau, nhằm giữ được thể diện, những bí mật riêng khi hành nghề. Các thợ cối thôn Đa Chất sử dụng khoảng 200 từ tiếng lóng nhưng hiện nghề đóng cối xay đã mất, những người thợ đều cao tuổi nên phần lớn chỉ nhớ được tiếng lóng thông dụng và không thực hành thường xuyên. Thế hệ trẻ hầu như không biết tiếng lóng. Bởi vậy, di sản này đang đứng trước nguy cơ mai một rất cao.

Tương tự, hát tuồng cổ, hát trống quân không chỉ ở huyện Thường Tín, Chương Mỹ mà còn có ở Phúc Thọ và một vài nơi khác, là những di sản phi vật thể đặc sắc, cũng như hát ru, hát đú, hát đối giao duyên của người Dao huyện Ba Vì đang dần ít được thực hành, thậm chí không còn thực hành mà chỉ còn những người cao tuổi nhớ các bài hát. Nếu các di sản này không được bảo vệ khẩn cấp chắc chắn sẽ mai một, dần mất đi.

Tiến sỹ Nguyễn Viết Chức, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long cho rằng, giá trị văn hóa phi vật thể Thăng Long-Hà Nội làm nên lối sống, cốt cách người Hà Nội nhưng đến nay nhiều di sản bị thất truyền. Điều cần thiết lúc này là cần kịp thời bảo vệ và phát huy các di sản đó trước khi quá muộn.

Áp lực lên di sản

So với các địa phương trong cả nước, Hà Nội là địa phương nắm giữ số lượng di sản văn hóa phi vật thể rất lớn, tới 1.793 di sản. Ngoại trừ các 3 di sản được UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và 16 di sản thuộc danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đã có sức sống trường tồn theo thời gian, các di sản khác ít nhiều đã chịu những tác động của sự thay đổi xã hội, không đủ sức tồn tại, cạnh tranh nếu không được quan tâm đúng mức. Một số lễ hội còn bị thương mại hóa, đang mất dần bản sắc văn hóa truyền thống khiến nhiều người không khỏi xót xa.

Một thực tế thấy rõ là các nghệ nhân trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể ngày một cao tuổi, một số nghệ nhân đã ra đi mà chưa tìm được người để truyền dạy, bảo tồn di sản. Thời gian quan, các nghệ nhân chủ yếu giữ nghề bằng niềm đam mê mà chưa được sự quan tâm đúng mức của các địa phương, chưa được công chúng đón nhận nhiều. Dù tâm huyết nhưng các nghệ nhân cũng không tránh khỏi lo lắng, tâm tư về số phận của di sản.

Điển hình như hát ca trù, hiện nay di sản này chỉ ở mức duy trì và vẫn có nguy cơ mai một cao. Các nghệ nhân giỏi nghề đàn hát còn lại quá ít và cao tuổi, một số người sức khỏe quá yếu. Trên thực tế, hát ca trù đang phải đối đầu với nền âm nhạc hiện đại, văn hóa du nhập từ nước ngoài, còn trong nước lại ít người quan tâm, ít người có khả năng học và theo nghề hát ca trù. Mặt khác, các câu lạc bộ hát ca trù đều thành lập theo hình thức tự nguyện, tự trang trải kinh phí hoạt động. Do nhu cầu cuộc sống, một số thành viên câu lạc bộ đã bỏ nghề chuyển sang làm việc khác để duy trì cuộc sống.

Đây cũng là thực trạng chung của các di sản phi vật thể khác mà nguyên nhân có cả chủ quan và khách quan. Sau khi phân tích các yếu tố xã hội, bà Phạm Thị Lan Anh, Trưởng phòng Quản lý di sản văn hóa thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cho rằng, trách nhiệm bảo tồn di sản, phát triển văn hóa của một số cấp, chính quyền địa phương có lúc chưa đồng đều, sâu sát nên thiếu các chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai. Mặt khác, các cơ quan này chưa chủ động xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế, đô thị. Vì vậy, công tác bảo tồn di sản không tránh khỏi những bất cập.

Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng tại các quận huyện của Thủ đô, nhiều di sản vẫn được cộng đồng gìn giữ, chung tay bảo tồn. Dù không trở lại thời gian hưng thịnh như trước nhưng các di sản vẫn thu hút được số lượng nhất định người dân tham gia, vẫn được công chúng biết tới./.

Bài 2: Cái nôi nuôi dưỡng của cộng đồng