Du lịch cộng đồng: Hướng đi giúp giảm nghèo hiệu quả và bền vững

Mô hình giảm nghèo gắn với phát triển du lịch cộng đồng đang ngày càng nhân rộng, không chỉ thu nhập tăng lên, ý thức bảo tồn văn hóa, gìn giữ môi trường của người dân cũng được nâng cao.

Phát triển du lịch cộng đồng đang trở thành một trong những giải pháp giảm nghèo hiệu quả, bền vững. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Phát triển du lịch cộng đồng đang trở thành một trong những giải pháp giảm nghèo hiệu quả, bền vững. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Những khu vực còn nhiều khó khăn khi tỷ lệ nghèo vẫn cao, sinh kế thiếu ổn định, năng lực quản lý hạn chế và những mô hình kinh tế bền vững chưa được phát triển đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm hướng đi mới nhằm duy trì thành quả, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng là yêu cầu cấp thiết. Ở nhiều địa phương, phát triển du lịch cộng đồng đang trở thành một trong những giải pháp giảm nghèo hiệu quả, bền vững.

Văn hóa truyền thống của 54 dân tộc Việt Nam là nền tảng của bản sắc, góp phần củng cố sức mạnh nội sinh và gia tăng sức cạnh tranh cho quốc gia. Đây chính là hạt nhân tạo nên sản phẩm du lịch đặc thù, những sản phẩm độc đáo, không thể sao chép, mang bản sắc vùng miền rõ rệt.

Các cộng đồng dân cư tại Thanh Hóa, Hà Giang, Lào Cai, Quảng Nam, Đắk Lắk, Kon Tum... đã chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ khi biết tận dụng thế mạnh để làm du lịch. Một trong những điển hình là Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông ở huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Trước đây, nhiều thôn bản của khu vực này có tỷ lệ nghèo tới 50% nhưng từ khi người dân chuyển sang làm homestay, dịch vụ hướng dẫn, ẩm thực, vận chuyển và bán sản phẩm thủ công, diện mạo kinh tế thay đổi rõ rệt.

Năm 2024, khu vực Pù Luông đón khoảng 250.000 lượt khách, doanh thu đạt khoảng 250 tỷ đồng. Toàn huyện có hơn 110 đơn vị kinh doanh liên quan du lịch. Nhiều thôn bản từng là vùng nghèo nhất của tỉnh nay chỉ còn 10-15% hộ nghèo và tỷ lệ này vẫn tiếp tục giảm hằng năm.

Hà Giang cũng là minh chứng sống động cho tiềm năng của du lịch cộng đồng. Với cảnh quan đá vôi hùng vĩ, văn hóa đặc sắc của nhiều dân tộc và các làng cổ, mô hình homestay, trải nghiệm ẩm thực, hướng dẫn trekking hay du lịch nông nghiệp đã trở thành sinh kế chính của hàng nghìn người dân. Thu nhập trung bình của các hộ làm du lịch cộng đồng đạt từ 50-70 triệu đồng mỗi năm. Nhiều hộ khá lên với doanh thu 200-300 triệu đồng.

Điều đáng chú ý là nhiều thanh niên dân tộc thiểu số không còn rời quê đi làm ăn xa mà ở lại phát triển dịch vụ du lịch. Không chỉ thu nhập tăng lên, mà trình độ dân trí, ý thức bảo tồn văn hóa, gìn giữ môi trường cũng được nâng cao.

img-5016.jpg
Tại nhiều vùng dân tộc thiểu số đã chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ trong giảm nghèo khi biết tận dụng thế mạnh để làm du lịch. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, văn hóa vùng dân tộc thiểu số là nơi lưu giữ nhiều giá trị nguyên sơ từ kiến trúc nhà ở, trang phục, ngôn ngữ đến lễ hội, tri thức bản địa. Tất cả những điều đó đang trở thành lợi thế khác biệt để Việt Nam phát triển du lịch bền vững.

Thực tiễn tại các mô hình du lịch cộng đồng như Sin Suối Hồ (Lai Châu), Lao Chải-Tả Van (Lào Cai), Pả Vi (Hà Giang) hay Kon Kơ Tu (Kon Tum) đã chứng minh rằng khi văn hóa được trao đúng vị trí, người dân trở thành chủ thể kiến tạo sản phẩm, vừa giữ gìn truyền thống vừa tạo động lực kinh tế mới.

Thực tế phát triển tại các địa phương cho thấy du lịch cộng đồng phù hợp một cách tự nhiên với mục tiêu giảm nghèo bền vững. Các hộ dân dễ dàng chuyển đổi sinh kế từ sản xuất nông nghiệp đơn điệu sang kinh tế đa dạng hơn nhờ có thêm thu nhập quanh năm từ khách du lịch.

Những công trình hạ tầng được đầu tư từ Chương trình giảm nghèo như đường giao thông, điện, nước, trường học, chợ và nhà văn hóa trở thành nền tảng để phát triển du lịch. Nhà ở ổn định giúp nhiều hộ mạnh dạn cải tạo làm homestay. Các mô hình hỗ trợ sản xuất và đào tạo nghề cũng góp phần nâng cao kỹ năng cho người dân khi tham gia dịch vụ du lịch.

Khi du lịch phát triển, giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc, nghề thủ công, lễ hội truyền thống được phục hồi và phát huy. Môi trường được chú trọng bảo vệ để phục vụ phát triển dài hạn. Quan trọng hơn, lợi ích từ du lịch được chia sẻ trực tiếp cho người dân địa phương, giúp họ thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển.

Tuy nhiên, để giảm nghèo nhờ du lịch cộng đồng phát huy hiệu quả, cần nhìn nhận đúng những thách thức đang tồn tại. Nhiều địa phương thiếu đội ngũ được đào tạo bài bản về quản lý du lịch và kỹ năng phục vụ khách. Hạ tầng liên kết vùng, đặc biệt là giao thông và dịch vụ số, vẫn còn hạn chế.

Phát triển du lịch nếu không được quản lý tốt sẽ gây áp lực lên môi trường, làm mất bản sắc văn hóa, thậm chí tạo ra sự bất bình đẳng khi lợi ích không được phân phối hợp lý trong cộng đồng. Do đó, việc lồng ghép mục tiêu giảm nghèo với phát triển du lịch cần được triển khai theo hướng bài bản, có quy hoạch, có cơ chế hỗ trợ đồng bộ và có sự tham gia của cả chính quyền, doanh nghiệp và người dân.

Để hướng đi này hiệu quả, cần lồng ghép phát triển du lịch cộng đồng vào các chương trình giảm nghèo để ưu tiên hỗ trợ các hộ nghèo và cận nghèo. Song song đó là tăng cường đào tạo kỹ năng cho người dân về giao tiếp, quản lý homestay, bảo tồn văn hóa và quản lý môi trường.

Việc tiếp tục đầu tư hạ tầng thiết yếu, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ và trải nghiệm truyền thống sẽ giúp du lịch nông thôn bền vững hơn. Cuối cùng là xây dựng cơ chế quản lý minh bạch, đảm bảo lợi ích từ du lịch quay về cộng đồng và khuyến khích doanh nghiệp liên kết với người dân.

Giảm nghèo bền vững gắn với phát triển du lịch cộng đồng là một hướng đi đúng và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Khi những giá trị văn hóa được gìn giữ, thiên nhiên được bảo vệ, người dân trở thành chủ thể, du lịch cộng đồng sẽ không chỉ mang lại sinh kế mà còn tạo ra động lực phát triển kinh tế-xã hội toàn diện, vững chắc và bền lâu./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục