Hợp tác giáo dục Việt Nam-Anh: Từ thị trường đến đối tác

Các trường của Anh nay tiếp cận Việt Nam có sự bảo trợ của chính phủ, với những Đại sứ đóng vai trò đầu mối thúc đẩy hợp tác, thay vì để mỗi trường đơn lẻ tự tìm đường.
Ban Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) và Đại học West of England (UWE Bristol) cùng các đại biểu tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 15 năm quan hệ hợp tác với chủ đề "Đổi mới sáng tạo toàn cầu, Tương lai số và Phát triển bền vững." (Ảnh: TTXVN phát)

Theo phóng viên TTXVN tại London, trong Chiến lược giáo dục quốc tế mới của Vương quốc Anh, Việt Nam tiếp tục được xếp vào nhóm thị trường trọng điểm, cùng Ấn Độ, Indonesia, Nigeria và Saudi Arabia.

Đi liền với vị trí ấy là một chuyển động đáng chú ý trong tư duy tiếp cận của nước Anh: từ tìm kiếm một thị trường tuyển sinh, hướng tới xây dựng một quan hệ đối tác.

Gốc rễ của thay đổi ấy nằm ở một chi tiết tưởng như hành chính: lần đầu tiên, Bộ Ngoại giao Anh cùng đứng tên "đồng sở hữu" Chiến lược giáo dục quốc tế, bên cạnh Bộ Giáo dục và Bộ Kinh doanh-Thương mại.

Việc ba bộ cùng chịu trách nhiệm một chiến lược cho thấy giáo dục đang được nước Anh nâng lên tầm chính sách đối ngoại.

Tiến sỹ Đào Thị Hồng, Bí thư thứ nhất phụ trách giáo dục và quản lý lưu học sinh của Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Anh, gọi đây là mô hình "kiềng ba chân:" Bộ Giáo dục giữ chuẩn mực đào tạo, Bộ Kinh doanh-Thương mại lo bài toán tăng trưởng, còn Bộ Ngoại giao đưa giáo dục thành một công cụ đối ngoại.

Khi cả ba cùng đỡ một chiến lược, theo bà, giáo dục không còn là chuyện của riêng ngành giáo dục, mà đã được đặt vào trung tâm chính sách gắn kết toàn cầu của nước Anh.

Trên nền tảng ấy, bà Đào Thị Hồng cho rằng 6 tháng qua chưa đủ để các trường đại học Anh thay đổi hẳn mô hình vận hành, nhưng đủ để thấy một sự dịch chuyển trong tư duy: từ "Market Opportunity" (tìm kiếm thị trường tuyển sinh) sang "Partnership Opportunity" (xây dựng đối tác chiến lược). Giáo dục không còn là câu chuyện xuất khẩu dịch vụ, mà là cầu nối xây dựng quan hệ quốc tế bền vững.

Bộ phận Giáo dục của Sứ quán cùng đại diện Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo thăm và làm việc tại Trường Queen Mary London. (Ảnh: TTXVN phát)

Sự dịch chuyển ấy hiện ra trên một số đường nét cụ thể. Các trường của Anh nay tiếp cận Việt Nam có sự bảo trợ của chính phủ, với những Đại sứ đóng vai trò đầu mối thúc đẩy hợp tác, thay vì để mỗi trường đơn lẻ tự tìm đường.

Trọng tâm cũng không còn là tuyển du học sinh tự túc, mà là những hình thức gắn bó sâu hơn như mở phân hiệu, đào tạo song bằng, nâng cao kỹ năng nghề, và hợp tác nghiên cứu ở các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng xanh, y sinh.

Bao trùm lên tất cả là cam kết về chuẩn chất lượng: các chương trình đưa sang Việt Nam đều phải đạt kiểm định khắt khe của Anh, đồng thời hướng tới công nhận tương đương bằng cấp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.

Những định hướng ấy được nâng đỡ bằng một quyết tâm thực chất. Nước Anh đặt mục tiêu đưa xuất khẩu giáo dục lên 40 tỷ bảng/năm vào năm 2030 - một tham vọng buộc phải dồn sức vào những thị trường trọng điểm, và Việt Nam là một trong số đó.

Nhưng minh chứng thuyết phục nhất cho một chiến lược không nằm ở văn bản, mà ở những mối quan hệ đã đủ bền vững để tự chứng minh giá trị của mình.

Khoảng thời gian 15 năm hợp tác giữa Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học West of England (UWE Bristol) là một minh chứng như thế. Thông qua các chương trình liên kết, đến nay hai trường đã đào tạo hơn 1.180 sinh viên/học viên và cùng dựng nên một hệ sinh thái nghiên cứu chung. Điều làm nên giá trị không phải con số, mà là hình thái hợp tác.

Hai trường không dừng ở việc cấp bằng, mà cùng nghiên cứu, cùng công bố khoa học, cùng đào tạo tiến sỹ. Bà Đào Thị Hồng đánh giá đây là "một trong những mô hình hợp tác giáo dục thành công và bền vững nhất" giữa hai nước.

Một xu thế lớn cũng đang định hình phía sau những câu chuyện ấy. Trong năm học 2024/25, khoảng 3.725 sinh viên Việt Nam sang Anh du học; trong khi đó, 13.285 người theo học các chương trình của Anh ngay tại Việt Nam.

Cả hai dòng chảy đều đang tăng, song cán cân nghiêng dần về phía giáo dục Anh đến với người học ngay tại Việt Nam - chiều hướng mà nếu biết chủ động chọn lọc, Việt Nam có thể tận dụng để mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục quốc tế ngay tại quê nhà, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Dẫu vậy, bức tranh không chỉ có gam sáng. Thị thực ở lại làm việc sau tốt nghiệp, vốn là lợi thế quen thuộc của giáo dục Anh, đang bị siết lại: từ 2 năm rút còn 18 tháng đối với cử nhân và thạc sỹ nộp hồ sơ từ ngày 1/1/2027 (bậc tiến sỹ vẫn giữ 3 năm). Vì thế, sức hút bền vững không thể trông vào một chính sách nhập cư, mà phải đến từ chất lượng đào tạo và từ tương lai nghề nghiệp mà người học nhìn thấy phía sau tấm bằng.

Và đây là chỗ mà Tiến sỹ Đào Thị Hồng đặt lại vấn đề một cách thấu đáo. Việc Việt Nam tiếp tục có tên trong nhóm ưu tiên, theo bà, mới chỉ là "điều kiện cần."

"Điều kiện đủ" nằm ở phía chúng ta, ở năng lực tự đặt bài toán chiến lược, tự chọn đối tác và thiết kế những mô hình hợp tác đôi bên cùng có lợi. Cánh cửa rộng mở, nhưng bước qua nó với tâm thế "được chọn" hay "chủ động chọn" lại là câu hỏi mà chỉ nền giáo dục Việt Nam mới tự trả lời được cho mình./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục