Thông tin từ Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết cả nước hiện có trên 4.000 điểm, trạm quan trắc môi trường, trong đó đơn vị này đang quản lý, vận hành 65 trạm quan trắc tự động, liên tục.
Trong thời gian tới, đơn vị này sẽ tập trung hoàn thiện các điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả hệ thống, từng bước nâng cấp hạ tầng, qua đó góp phần đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác cảnh báo, dự báo môi trường.
Theo Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 7/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia được quy hoạch phải đáp ứng quy định của Luật Bảo vệ môi trường, phù hợp với hệ thống quy hoạch quốc gia và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đảm bảo thực hiện quan trắc môi trường nền và môi trường tác động các khu vực có tính chất liên vùng, liên tỉnh, xuyên biên giới.
Thời gian qua, mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia và địa phương từng bước được đầu tư, hoàn thiện. Trong đó, Cục Môi trường đang quản lý, vận hành 65 trạm quan trắc tự động, liên tục (37 trạm không khí, 22 trạm nước mặt, 6 trạm nước biển ven bờ); hệ thống quan trắc địa phương có 92 trạm không khí, 113 trạm nước tự động, liên tục với trên 4.000 điểm quan trắc.
Đối với quan trắc định kỳ, theo Cục Môi trường, trong năm 2025 đã thực hiện từ 57% đến 83% số điểm theo quy hoạch, tùy từng thành phần môi trường. Song song với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng tiếp tục duy trì các chương trình quan trắc quốc gia, mở rộng số lượng điểm và tăng cường quan trắc tự động, liên tục. Trong khi đó, tại cơ sở, việc đầu tư giữa các địa phương còn chưa đồng đều. Theo thống kê, hiện mới có 22/34 tỉnh, thành phố được đầu tư trạm quan trắc không khí tự động, liên tục.
Về dữ liệu quan trắc, từ năm 2018, Cục Môi trường đã phát triển, chuyển giao phần mềm Envisoft cho các địa phương để tiếp nhận, quản lý, khai thác dữ liệu quan trắc tự động, liên tục. Hệ thống đã tiếp nhận dữ liệu của khoảng 3.000 trạm quan trắc tự động về không khí, nước mặt, nước biển, khí thải, nước thải và nước dưới đất, phục vụ đánh giá chất lượng môi trường, kiểm tra, giám sát và phòng ngừa ô nhiễm.
Từ năm 2023, Cục Môi trường tiếp tục phối hợp với tổ chức IDH phát triển nền tảng công khai thông tin môi trường minh bạch (TEDP). Năm 2026, cục đã ban hành văn bản về kế hoạch nâng cấp Envisoft và TEDP, khuyến khích các địa phương, doanh nghiệp thực hiện công khai thông tin quan trắc. Nhờ đó, hệ thống dữ liệu quan trắc từng bước được kết nối, tập trung và phục vụ trực tiếp công tác quản lý, đánh giá chất lượng môi trường và công khai thông tin.
Hiện nay, Cục Môi trường đang duy trì vận hành hằng ngày mô hình SILAM, dự báo AQI và nồng độ PM2.5, PM10, NOx, SOx, O₃ trong 48 giờ trên phạm vi toàn quốc; kết quả được sử dụng xây dựng bản tin, báo cáo, công bố hằng ngày và cung cấp cho các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam.
Về môi trường nước, cục đang nghiên cứu, thử nghiệm mô hình dự báo chất lượng nước, bước đầu áp dụng trên lưu vực sông Cầu. Tuy nhiên, công tác này còn hạn chế về nhân sự chuyên sâu và hạ tầng kỹ thuật (máy chủ vận hành hiện chưa đáp ứng dự báo trung hạn 5 - 7 ngày hay tích hợp AI/ML).
Thời gian tới, Cục Môi trường sẽ tập trung hoàn thiện các điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả hệ thống quan trắc và cảnh báo, dự báo, gồm: Định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường trong năm 2026 và Quy chế phối hợp, phân công nhiệm vụ dự báo, cảnh báo ô nhiễm không khí vùng Thủ đô; tiếp tục nâng cấp mạng lưới quan trắc không khí phục vụ dự báo, trước mắt làm dày các điểm đo bằng cảm biến.
Cục Môi trường cũng sẽ kiểm tra, bảo đảm các trạm quan trắc không khí tại Hà Nội hoạt động thông suốt, liên tục; nâng cấp hạ tầng tính toán, lưu trữ, truyền dữ liệu để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác cảnh báo, dự báo./.
Kỳ vọng “hồi sinh” Bắc Hưng Hải: Khơi dòng nước sạch, đánh thức “đại thủy nông"
Dự án nâng cấp, hiện đại hóa và cải thiện môi trường nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, vừa khởi công đã mở ra kỳ vọng khơi thông dòng chảy, trả lại giá trị vốn có của công trình “đại thủy nông.”