Nghị quyết về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của đất nước.
Không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, Nghị quyết còn xác lập mô hình phát triển mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Các chuyên gia cho rằng việc đổi mới mô hình phát triển sẽ mở ra không gian tăng trưởng mới, khơi thông các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Đột phá về thể chế cần được ưu tiên hàng đầu
Theo Tiến sỹ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Nghị quyết về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của đất nước.
Nếu trước đây đổi mới mô hình tăng trưởng chủ yếu được coi là phương tiện để đạt mục tiêu thì nay mô hình phát triển được xác định là định hướng tổng thể, bao trùm các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh và xã hội.
Trong cách tiếp cận mới, tăng trưởng kinh tế là công cụ để hiện thực hóa các mục tiêu đó. Sự thay đổi này phản ánh bước chuyển từ tư duy coi tăng trưởng là đích đến sang tư duy phát triển toàn diện, đặt các lĩnh vực trong mối quan hệ gắn kết, bổ trợ lẫn nhau.
Để hiện thực hóa mô hình phát triển mới và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Tiến sỹ Nguyễn Đình Chúc cho rằng cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về năng suất và năng lực của doanh nghiệp.
Trong thời gian dài, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô và khai thác các yếu tố sản xuất truyền thống, trong khi dư địa của mô hình này đang dần thu hẹp. Vì vậy, động lực tăng trưởng cần chuyển mạnh sang nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển của doanh nghiệp.
Theo phân tích của Tiến sỹ Nguyễn Đình Chúc, doanh nghiệp cần giữ vai trò trung tâm trong hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Việc tăng đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất sẽ tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao năng suất lao động và tạo thêm động lực cho tăng trưởng bền vững.
Để đạt mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, đột phá về thể chế cần được ưu tiên hàng đầu. Thể chế thông thoáng sẽ tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng mới, mở rộng không gian phát triển, khuyến khích đổi mới sáng tạo và tạo môi trường để thị trường phát huy sức sáng tạo trong việc hình thành các ngành, lĩnh vực, sản phẩm và dịch vụ mới.
Cùng với đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những điều kiện quyết định để triển khai thành công mô hình phát triển mới. Bên cạnh đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, cần tiếp tục đẩy mạnh tự chủ đại học cả về tổ chức, nhân lực và tài chính, đồng thời chú trọng đào tạo lại lực lượng lao động hiện có nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình kinh tế, giúp người lao động thích ứng với những đòi hỏi mới của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Phát huy lợi thế không gian phát triển gắn với tăng trưởng bền vững
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Trương Quang Hải, Phó Chủ tịch Hội Địa lý Việt Nam, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh gắn với phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, điều quan trọng là chuyển mạnh từ mô hình phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu.
Động lực tăng trưởng cần dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động; đồng thời phát huy nội lực của nền kinh tế kết hợp tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hợp tác quốc tế.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành xu hướng của thương mại toàn cầu, Việt Nam cần thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, từng bước chuyển từ mô hình kinh tế tuyến tính sang mô hình sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải.
Ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Giáo sư, Tiến sỹ Trương Quang Hải cho rằng cùng với chuyển đổi mô hình phát triển, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao hiệu quả quản trị.
Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng, môi trường và an ninh lương thực, năng lực quản trị và khả năng thích ứng sẽ quyết định sức chống chịu cũng như khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế.
Đề cập đến tổ chức không gian phát triển, Giáo sư, Tiến sỹ Trương Quang Hải nhận định Việt Nam có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cùng nguồn tài nguyên con người và văn hóa phong phú.
Để khai thác hiệu quả các lợi thế này, cần tổ chức lại không gian phát triển trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương. Mỗi vùng cần tập trung phát triển những ngành, sản phẩm có thế mạnh, phù hợp với điều kiện về tài nguyên, nguồn nhân lực và hạ tầng, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh trên cả thị trường trong nước và quốc tế.
Bên cạnh việc phát huy nội lực của từng vùng, cần tăng cường liên kết giữa các địa phương thông qua các hành lang kinh tế, chuỗi cung ứng, hệ thống đô thị - nông thôn và mạng lưới logistics.
Sự kết nối đồng bộ này sẽ tạo điều kiện để các địa phương hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, hình thành không gian phát triển thống nhất, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và tạo thêm động lực tăng trưởng.
Để mô hình phát triển mới phát huy hiệu quả trong dài hạn, vị chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức quản trị theo hướng phân cấp, phân quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của bối cảnh toàn cầu.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản trị, phát triển đô thị, nông thôn và quản lý tài nguyên theo hướng thông minh, tạo nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong giai đoạn mới./.
Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam
Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần của mô hình phát triển.