Những bước chuyển cho giai đoạn phát triển mới: Phá ranh giới để khơi thông nguồn lực

Từ yêu cầu thực tiễn, Hội nghị Trung ương 3 xác lập bước chuyển chiến lược từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia.

Phiên khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Phiên khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Làm sao để không gian phát triển không tiếp tục bị chia cắt bởi ranh giới hành chính, nguồn lực không bị phân tán bởi tư duy cục bộ địa phương? Đòi hỏi ấy trở nên cấp thiết hơn khi đất nước hướng tới mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên ngay trong năm nay và phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Từ yêu cầu thực tiễn, Hội nghị Trung ương 3 xác lập bước chuyển chiến lược từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia.

Một năm sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới. Khi nhiều địa phương được sắp xếp lại, không gian phát triển được mở rộng, thì cách quản lý cũng phải thay đổi. Điều cần tổ chức lúc này không còn là từng địa bàn riêng lẻ, mà là cả một không gian kinh tế-xã hội rộng lớn hơn, nơi các nguồn lực phải được kết nối và phát huy để tạo ra hiệu quả cao hơn.

Bộ máy thay đổi thì cách nghĩ, cách làm cũng phải thay đổi. Không thể tiếp tục quy hoạch theo từng “mảnh ghép” riêng lẻ. Càng không thể để giao thông, logistics, năng lượng, dữ liệu, nguồn nước hay phát triển đô thị dừng lại ở ranh giới hành chính.

Thực tế 6 tháng đầu năm 2026 càng cho thấy rõ điều đó. Bộ máy của hệ thống chính trị sau sắp xếp đã hoạt động, vận hành ổn định, bước đầu phát huy hiệu quả. Nhưng điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi. Mà một trong những nguyên nhân sâu xa là nguồn lực còn chia cắt, phân cấp chưa gắn đủ với nguồn lực, dữ liệu, công cụ, năng lực cán bộ và kiểm soát.

Nên nhớ rằng, đất nước ta không thiếu nguồn lực, điều thiếu là sự kết nối để thành sức mạnh chung. Câu chuyện cảng biển cho thấy rất rõ điều đó. Năm 2025, hệ thống cảng biển Việt Nam gồm 34 cảng với 320 bến đã xử lý hơn 960 triệu tấn hàng hóa. Cái Mép và Hải Phòng đều nằm trong Top 20 cảng container hiệu quả nhất thế giới, nhiều cảng có thể tiếp nhận tàu trên 200.000 DWT. Nhưng kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và logistics sau cảng vẫn là điểm nghẽn, khiến lợi thế của cảng biển chưa được phát huy hết.

Tại Đại hội XIV, Đảng ta đã xác định phải hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị và đặc khu kinh tế thế hệ mới. Hội nghị Trung ương 3 tiếp tục cụ thể hóa bằng những quyết sách về đổi mới mô hình phát triển, xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, xác định nền tảng cho tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2130 và thống nhất chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương.

Điều đó cũng có nghĩa là không còn tư duy “địa phương nào biết địa phương ấy." Không còn “ngành nào quản ngành ấy." Cũng không thể tiếp tục “việc ai người ấy làm." Mọi nguồn lực của quốc gia phải được đặt trong một tổng thể thống nhất để bổ trợ cho nhau, thay vì bị chia nhỏ bởi địa giới hành chính hay ranh giới quản lý.

Không gian phát triển được tổ chức thống nhất không có nghĩa là mọi việc đều tập trung về Trung ương. Ngược lại, Trung ương 3 đã phân định rõ hơn trách nhiệm của từng cấp để bộ máy vận hành thông suốt.

Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Trung ương không làm thay địa phương; cấp tỉnh không ôm giữ việc cấp xã có thể làm tốt."

Theo đó, Trung ương tập trung định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, xây dựng các nền tảng dùng chung, phân bổ nguồn lực lớn và kiểm tra việc thực hiện. Cấp tỉnh là đầu mối cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã và chịu trách nhiệm về kết quả công tác. Cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp thực thi, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Và cả ba cấp phải bảo đảm vận hành thông suốt, phối hợp chặt chẽ, tương tác hiệu quả.

ttxvn-khai-mac-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-2.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Trung ương cũng đã thiết kế luôn cơ chế đảm bảo thực thi. Không giao nhiệm vụ mà không xác định rõ điều kiện thực hiện; không phân cấp mà thiếu kiểm soát; không để trách nhiệm hòa tan trong phối hợp. Đồng thời, Trung ương xác định đất đai là “không gian phát triển, không gian sinh tồn," là nguồn lực đặc biệt của quốc gia phải được thống nhất quản lý để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước.

Đó cũng là lý do phải nhìn sự phát triển trong một chỉnh thể thống nhất. Một địa phương có thể phát triển nhanh trong một giai đoạn, nhưng khó phát triển bền vững nếu vùng xung quanh vẫn là “điểm trũng." Một cực tăng trưởng cũng khó phát huy hết vai trò nếu thiếu hạ tầng kết nối, thiếu chuỗi cung ứng và thiếu sự phối hợp của các địa phương lân cận.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Giá trị và sức sống của các quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế: điểm nghẽn được tháo gỡ, năng lực mới được tạo lập, bộ máy vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, năng suất và sức cạnh tranh được nâng cao, đất nước an toàn hơn, nhân dân được thụ hưởng thiết thực hơn."

Nói cho cùng thì mọi chủ trương đúng phải nhìn vào kết quả!

Điều Hội nghị Trung ương 3 hướng tới không phải chỉ là sắp xếp lại địa giới hay điều chỉnh cách quản lý. Điều quan trọng hơn là tổ chức lại không gian phát triển của đất nước để các nguồn lực không còn bị chia cắt, mỗi địa phương phát huy được lợi thế của riêng mình trong một chỉnh thể thống nhất.

Khi không gian phát triển được kết nối, nguồn lực được điều phối hiệu quả và mỗi cấp làm đúng vai, đúng việc của mình thì sức mạnh của cả quốc gia sẽ được phát huy. Đó cũng chính là ý nghĩa của bước chuyển từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất mà Hội nghị Trung ương 3 xác lập.

Động lực cũ không thể mở tương lai

Nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, đất đai, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên. Mô hình ấy đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, đưa nền kinh tế từ nghèo vươn lên quy mô lớn trong khu vực. Nhưng khi mục tiêu là nước phát triển có thu nhập cao thì chừng đó chưa đủ. Bởi vậy, Hội nghị Trung ương 3 xác lập bước chuyển chiến lược, từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.

Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. GDP tăng 8,18%, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng 20,18%, tích luỹ tài sản tăng 15,20%, còn công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,23%, tiếp tục là động lực chính của nền kinh tế. Nhưng phía sau những con số đó lại có những điều đáng suy nghĩ. Trong khi có 169.800 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động thì cũng có tới 151.100 doanh nghiệp rút lui ra khỏi thị trường, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước.

Những con số ấy cho thấy kinh tế vẫn giữ được đà tăng trưởng. Nhưng tăng trưởng cao chưa đồng nghĩa là nội lực đã đủ mạnh. Và khi dư địa phát triển theo chiều rộng dần thu hẹp thì câu hỏi đặt ra là: Động lực nào sẽ đưa đất nước đi nhanh hơn trên chặng đường tới?

Trong nhiều năm, tăng trưởng của nước ta chủ yếu dựa vào mở rộng vốn đầu tư, khai thác đất đai, sử dụng lao động chi phí thấp và phát huy các lợi thế sẵn có. Đó là lựa chọn hết sức phù hợp trong giai đoạn đầu đổi mới, góp phần quan trọng đưa đất nước từ một nền kinh tế nghèo vươn lên nhóm có quy mô lớn trong khu vực.

Nhưng thành công của hôm qua không thể đảm bảo cho thành công của ngày mai. Đất đai không thể mở rộng mãi. Lao động giá rẻ rồi sẽ mất dần lợi thế. Đầu tư nếu chỉ tăng về lượng mà không nâng được hiệu quả sẽ tạo áp lực lên nguồn lực quốc gia. Nói như nhiều chuyên gia kinh tế, dư địa tăng trưởng theo chiều rộng đã dần thu hẹp. Muốn đi tiếp thì chỉ còn con đường nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Bối cảnh hiện nay cũng cho thấy, cuộc cạnh tranh toàn cầu đã thay đổi. Điều quyết định không còn là nước nào có nhiều tài nguyên hơn hay nhiều nhân công giá rẻ hơn mà là nước nào có năng suất cao hơn, làm chủ công nghệ nhanh hơn và có nguồn nhân lực chất lượng cao hơn.

Chính từ thực tiễn ấy, Hội nghị Trung ương 3 xác định bước chuyển chiến lược thứ ba là chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.

Đây chính là sự thay đổi mô hình phát triển đất nước!

Đại hội XIV của Đảng đã đặt mục tiêu rất rõ. Đó là đến năm 2030, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP, tăng trưởng bình quân từ 10% trở lên. Và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Muốn đạt được những mục tiêu ấy thì không thể chỉ tiếp tục phát triển bằng những động lực cũ. Đất đai, vốn đầu tư hay lao động giá rẻ vẫn cần, nhưng không phải là lợi thế quyết định. Mà điều quyết định là năng suất, là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

ttxvn-1904-nghi-quyet-57-khoa-hoc-cong-nghe-lai-chau-2.jpg
Cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu xử lý thủ tục hành chính trên hệ thống điện tử. (Ảnh: Việt Dũng/TTXVN)

Trong nền kinh tế số, giá trị lớn nhất không còn nằm ở tài nguyên dưới lòng đất mà ở tri thức và khả năng sáng tạo của con người. Một sản phẩm công nghệ cao có thể tạo ra giá trị lớn hơn rất nhiều lần so với việc chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô. Đó cũng là lý do khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới.

Và đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Hội nghị Trung ương 3. Trung ương xác định phải đổi mới mô hình phát triển, xây dựng lực lượng sản xuất mới, lấy khoa học-công nghệ-đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính của tăng trưởng. Trung ương xác định phải phát triển mạnh kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đáng chú ý là ở bước chuyển chiến lược này, con người được đặt vào vị trí trung tâm. Công nghệ chỉ phát huy giá trị khi có con người làm chủ. Đổi mới sáng tạo chỉ trở thành động lực khi có cơ chế khuyến khích sáng tạo và đội ngũ nhân lực đủ năng lực để biến ý tưởng thành sản phẩm, thành năng suất và thành sức mạnh cạnh tranh.

Vì vậy, cùng với phát triển khoa học, công nghệ, Trung ương đã yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; có chính sách phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài; coi phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển.

Điểm rất mới là Trung ương đã không tách tăng trưởng với đổi mới sáng tạo thành hai nhiệm vụ riêng. Tăng trưởng phải được tạo ra bằng đổi mới sáng tạo. Mỗi bước tiến về năng suất phải gắn với tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.

Điều đó cũng cho thấy mục tiêu tăng trưởng hai con số không phải là bằng mọi giá. Điều cốt lõi là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Nói cho cùng, Hội nghị Trung ương 3 không chỉ đặt ra một mô hình tăng trưởng mới mà còn mở ra cách phát triển mới. Khi tri thức, công nghệ và con người là nguồn lực quyết định thì đất nước mới có thể phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hoá được những mục tiêu chiến lược đã được xác lập.

Điều quyết định là hành động

Không có quốc gia nào phát triển mà không phải đối mặt với khó khăn, thách thức. Vấn đề là có nhìn thấy nguy cơ từ sớm để chủ động chuẩn bị hay không. Từ thực tiễn đó, Hội nghị Trung ương 3 xác lập bước chuyển chiến lược thứ tư, từ xử lý từng nguy cơ sang chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu và bảo vệ vững chắc đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu về quốc phòng, an ninh, mà còn là tư duy phát triển trong một thế giới nhiều biến động.

Người Việt Nam có câu: "Đừng chờ có bão mới lo dựng nhà." Đó không chỉ là kinh nghiệm ứng phó với thiên tai mà còn là bài học trong quản trị quốc gia. Thực tế có lúc chúng ta vẫn thiên về xử lý khi sự việc đã xảy ra, vẫn để có bất cập phát sinh rồi mới sửa, có điểm nghẽn rồi mới tháo gỡ và khi gặp rủi ro mới tìm giải pháp. Cách làm ấy có thể giải quyết được việc trước mắt nhưng thường phải trả giá đắt hơn rất nhiều so với phòng ngừa từ sớm.

Bài học ấy càng rõ hơn trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Chỉ vài năm qua, đại dịch COVID-19 đã làm đảo lộn thế giới, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người. Rồi xung đột địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đứt gãy chuỗi cung ứng, thiên tai cực đoan và các cuộc tấn công mạng đã liên tiếp thử thách sức chống chịu của nhiều nền kinh tế.

Theo Liên hợp quốc, kinh tế thế giới năm 2020 suy giảm tới 4,3% - mức giảm sâu trong nhiều thập kỷ. Riêng thiên tai trong hai năm 2024-2025 gây thiệt hại hơn 500 tỷ USD trên toàn cầu. Tại Việt Nam, cơn bão Yagi và thiên tai cực đoan năm 2024 cũng gây thiệt hại nặng nề tới hơn 88.748 tỷ đồng.

Những con số ấy cho thấy, phát triển nhanh thôi là chưa đủ, quan trọng hơn, phải đủ sức đứng vững trước những cú sốc khó lường.

Chính từ yêu cầu đó, Đại hội XIV của Đảng không chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số mà còn yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong bối cảnh ấy, bảo vệ Tổ quốc hôm nay không chỉ là bảo vệ độc lập, chủ quyền, mà còn là giữ vững an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh dữ liệu, an ninh mạng và môi trường hòa bình để phát triển. Nói cách khác, bảo vệ những nền tảng đó cũng chính là giữ vững động lực phát triển của đất nước.

Vì thế, bước chuyển chiến lược thứ tư mà Hội nghị Trung ương 3 xác lập là hướng tới xây dựng sức chống chịu của quốc gia. Mục tiêu không phải để né tránh mọi rủi ro, mà là chủ động thích ứng và phục hồi khi biến động xảy ra. Muốn vậy, quản trị quốc gia cũng phải chuyển từ phản ứng sang chủ động dự báo, phòng ngừa; bảo đảm an ninh, an toàn và khả năng vận hành liên tục của hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và hạ tầng thiết yếu. An ninh là điều kiện của phát triển, còn phát triển bền vững lại củng cố an ninh. Thế nên, phải phát hiện sớm, cảnh báo sớm, xử lý từ sớm, từ xa. Không để việc nhỏ thành việc lớn.

Tinh thần ấy đã và đang được cụ thể hóa. Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều vấn đề đã được phát hiện, kịp thời điều chỉnh ngay trong quá trình thực hiện, thay vì để tích tụ thành những vướng mắc lớn hơn.

ttxvn-ha-noi-dat-duoc-nhung-chuyen-bien-sau-1-nam-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap.jpg
Người dân đến làm thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công xã Đông Anh (Hà Nội). (Ảnh: Quốc Lũy/TTXVN)

Chỉ ít ngày tới đây, Bộ Chính trị sẽ tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước trực tiếp truyền đạt những nội dung cốt lõi của Trung ương. Điều đó cho thấy, nghị quyết không dừng ở việc ban hành mà được bắt tay triển khai ngay từ đầu.

Thực tiễn nhiều năm qua cũng đã cho thấy, khoảng cách giữa nghị quyết và cuộc sống thường nằm ở khâu thực thi. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã chỉ rõ: "Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi." Người dân đang trông đợi những đổi thay có thể cảm nhận được trong cuộc sống. Doanh nghiệp rất cần một môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng hơn, chi phí thấp hơn và thủ tục thuận lợi hơn.

Điều quan trọng nhất lúc này là hành động, là nói phải đi đôi với làm và làm phải đo được bằng kết quả. Tinh thần đó cũng là yêu cầu mà Hội nghị Trung ương 3 đặt ra: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả. Chỉ khi mỗi chủ trương được chuyển thành việc làm cụ thể, kết quả cụ thể thì nghị quyết mới thật sự đi vào cuộc sống.

Đó cũng là điều mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Giá trị và sức sống của các quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế: điểm nghẽn được tháo gỡ, năng lực mới được tạo lập, bộ máy vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, năng suất và sức cạnh tranh được nâng cao, đất nước an toàn hơn, nhân dân được thụ hưởng thiết thực hơn. Từ nhận thức đó, phải chuyển ngay sự thống nhất về chủ trương thành thống nhất trong hành động, đưa các quyết sách của Trung ương thành kết quả cụ thể."

Thời gian từ nay đến năm 2030 chỉ còn bốn năm, còn mục tiêu đến năm 2045 cũng không còn xa. Mỗi quyết sách đúng được triển khai thực hiện kịp thời sẽ tạo thêm động lực cho phát triển. Nhưng mỗi sự chậm trễ trong tổ chức thực hiện cũng sẽ làm lỡ mất cơ hội. Bốn bước chuyển chiến lược chỉ thực sự có giá trị và ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động. Đó cũng là tín hiệu mạnh mẽ từ Hội nghị Trung ương 3: Tạo thêm những điều kiện cần thiết để biến khát vọng thành kết quả cụ thể trong thực tiễn./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Bộ trưởng Hội nhập châu Phi, Ngoại giao và người Senegal ở nước ngoài Cheikh NIANG tiếp Đại sứ Việt Nam tại Algeria kiêm nhiệm Senegal Trần Quốc Khánh. (Ảnh: Mạnh Hùng/TTXVN)

"Cửa ngõ" để Việt Nam tiến vào thị trường Tây Phi

Mối quan hệ giữa Việt Nam-Senegal là sự gắn kết giữa những người bạn thân thiết và thủy chung; hai nước có lập trường tương đồng và ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế, đặc biệt là tại LHQ.

Đoàn Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ trên đường Bắc Sơn (Ba Đình, Hà Nội). (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tưởng niệm Anh hùng liệt sỹ

Sáng 26/7, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặt vòng hoa, dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Ðài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ (đường Bắc Sơn, Hà Nội).

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì buổi họp báo. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 3 Pháp lệnh

Chiều 25/7, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam công bố các Pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI thông qua.