Việt Nam và Australia có nhiều lợi thế bổ trợ để mở rộng hợp tác nông nghiệp công nghệ cao.
Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, hai nước cần chuyển từ mô hình chuyển giao công nghệ đơn thuần sang đồng nghiên cứu, đồng phát triển và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sự tham gia của nhà nước, viện-trường, doanh nghiệp và người sản xuất.
Đó là nhận định của nghiên cứu sinh Đại học Tây Australia (UWA) Phạm Thị Thanh Huyền, người đạt giải Nhì Giải thưởng nghiên cứu khoa học dành cho nghiên cứu sinh Việt Nam tại Australia (AURORA) năm 2025, do Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam tại Australia (NIC AU) và các đối tác tổ chức.
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Australia về triển vọng hợp tác nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam-Australia, chị Phạm Thị Thanh Huyền cho rằng quốc gia lớn nhất châu Đại dương có thế mạnh về nghiên cứu, công nghệ sinh học, chọn tạo giống, nông nghiệp số và quản lý tài nguyên.
Trong khi đó, Việt Nam sở hữu hệ sinh thái nông nghiệp nhiệt đới phong phú, từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp đến thủy sản, với nhiều vùng sinh thái khác nhau.
Những lợi thế bổ trợ này tạo cơ sở để hai bên không chỉ chuyển giao công nghệ mà còn cùng nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Theo số liệu chị Huyền dẫn lại từ Bộ Nông nghiệp, Thủy sản và Lâm nghiệp Australia, năm 2024, thương mại hai chiều về nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp giữa hai nước đạt 4,4 tỷ đôla Australia (3,17 tỷ USD).
Trong năm tài chính 2025-2026, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR) đầu tư 5,4 triệu AUD cho 23 dự án tại Việt Nam.
Chị Huyền phân tích dư địa hợp tác tập trung vào ba nhóm chính: phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và phát thải thấp; ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ số vào sản xuất; và nâng cao giá trị chuỗi nông sản thông qua chế biến sâu, tiêu chuẩn chất lượng và thương mại hóa sản phẩm xanh.
Từ chuyển giao sang cùng phát triển công nghệ
Bên cạnh những cơ hội, hợp tác nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam-Australia vẫn đối mặt với ba thách thức chính: khả năng thích nghi của công nghệ, nguồn nhân lực và khoảng cách từ nghiên cứu tới thương mại hóa.
Theo chị Huyền, công nghệ thành công tại Australia không phải lúc nào cũng có thể áp dụng nguyên trạng tại Việt Nam do khác biệt về khí hậu, quy mô sản xuất, hạ tầng và khả năng đầu tư.
Những giải pháp phù hợp với các trang trại quy mô lớn của Australia có thể quá tốn kém hoặc chưa phù hợp với mô hình hộ nông dân và hợp tác xã tại Việt Nam.
Vì vậy, hợp tác cần chuyển từ chuyển giao công nghệ đơn thuần sang cùng thử nghiệm, điều chỉnh và phát triển giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế. Đây cũng là hướng ACIAR đang thúc đẩy khi chuyển dần quan hệ với Việt Nam từ mô hình nhà tài trợ - bên tiếp nhận sang quan hệ đối tác và đồng đầu tư.
Thách thức tiếp theo là nguồn nhân lực. Nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi đội ngũ vừa có chuyên môn nông nghiệp, vừa có khả năng tiếp cận công nghệ số, dữ liệu và quản trị chuỗi giá trị. Do đó, hợp tác đào tạo cần tăng cường đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, trao đổi nhà khoa học, thực tập tại doanh nghiệp và trang bị kỹ năng thương mại hóa.
Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Từ một công trình khoa học đến sản phẩm thương mại còn phải trải qua nhiều khâu từ thử nghiệm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, hoàn thiện pháp lý đến xây dựng mô hình kinh doanh và huy động vốn.
Kinh nghiệm từ chương trình Beanstalk Drought Venture Studio của Australia, đã được mở rộng sang Đông Nam Á thông qua việc ra mắt Monsoon Ventures - một liên doanh tập trung vào công nghệ nông nghiệp tại khu vực, bao gồm cả Việt Nam, cho thấy cần trang bị cho nhà khoa học thêm kiến thức về thị trường, sở hữu trí tuệ, phát triển sản phẩm và huy động vốn.
Theo chị Huyền, chính sách hỗ trợ không nên dừng ở tài trợ nghiên cứu mà cần bao phủ cả quá trình đưa kết quả từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Một tín hiệu tích cực là năm 2026, ACIAR, Đại học Queensland và SunRice Group công bố kế hoạch xây dựng chương trình đồng đầu tư khoảng 1 triệu AUD cho chuỗi giá trị lúa gạo thông minh với khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long. Việc doanh nghiệp tham gia cùng viện, trường ngay từ đầu được kỳ vọng có thể giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu, ứng dụng và thị trường.
Xây dựng mạng lưới hợp tác dài hạn
Theo chị Huyền, hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp có thể trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ nông nghiệp Việt Nam-Australia.
Trường đại học có thế mạnh về nghiên cứu và đào tạo; viện nghiên cứu có hạ tầng và năng lực phát triển công nghệ; trong khi doanh nghiệp hiểu nhu cầu thị trường và có khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Nếu được kết nối trong các chương trình dài hạn, ba thành phần này có thể tạo thành một chuỗi từ đào tạo nhân lực, nghiên cứu và thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa.
Đối với Việt Nam, chị Huyền đánh giá Đề án 89 của Chính phủ về nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học tới năm 2030 là một nền tảng quan trọng để phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và tăng khả năng tiếp cận các hệ thống nghiên cứu quốc tế.
Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình có thể được nâng cao nếu đào tạo tiến sĩ gắn chặt hơn với các chương trình nghiên cứu lớn của quốc gia.
Nghiên cứu sinh UWA khuyến nghị, Việt Nam có thể xác định những bài toán ưu tiên như nông nghiệp phát thải thấp, sức khỏe đất, giống thích ứng với biến đổi khí hậu, chăn nuôi bền vững, lâm nghiệp hay thủy sản, sau đó xây dựng các liên danh Việt Nam-Australia cùng tham gia giải quyết.
Trong mô hình này, nghiên cứu sinh có thể thực hiện luận án như một cấu phần của chương trình chung, được các nhà khoa học hai nước đồng hướng dẫn, sử dụng hạ tầng nghiên cứu của cả hai bên và làm việc trực tiếp với doanh nghiệp hoặc địa phương có nhu cầu ứng dụng.
“Khi đó, đầu tư cho một nghiên cứu sinh không chỉ tạo ra một bằng tiến sĩ, mà còn có thể tạo ra dữ liệu, công nghệ, mạng lưới hợp tác và nền tảng cho các dự án tiếp theo,” chị Huyền nhận định.
Một nguồn lực khác cần được phát huy tốt hơn là đội ngũ nhà khoa học và chuyên gia người Việt đang làm việc tại Australia.
Theo chị Huyền, nhóm này có lợi thế khi vừa hiểu nhu cầu của Việt Nam, vừa có mạng lưới chuyên môn với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp Australia.
Họ có thể tham gia từ giai đoạn xây dựng đề tài, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, kết nối đối tác và hình thành các dự án mới. Các quỹ khởi động quy mô nhỏ, cơ chế đồng chủ trì hay vị trí liên kết học thuật có thể giúp phát huy tốt hơn nguồn lực này.
Chị Huyền nhấn mạnh nếu kết nối được các chương trình đào tạo như Đề án 89 với những chương trình nghiên cứu lớn, mạng lưới nhà khoa học Việt Nam tại Australia và hệ thống đại học-viện nghiên cứu-doanh nghiệp của Australia, hợp tác hai nước có thể chuyển từ mục tiêu đơn thuần “đưa người đi học” sang cùng xây dựng năng lực khoa học và cùng giải quyết những bài toán phát triển của Việt Nam. Đó cũng là giá trị lâu dài mà hợp tác giáo dục, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có thể mang lại cho nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam-Australia./.