Thời gian gần đây, trên nhiều diễn đàn cóuy tín trong nước góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vàLuật Đất đai, đã dấy lên cuộc tranh luận: chế độ sở hữu đất đai ở nướcta nên được thiết kế như thế nào?
Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng, nênthừa nhận sở hữu tư nhân đất đai. Nhóm ý kiến thứ hai ủng hộ chế độ đasở hữu về đất đai. Nhóm ý kiến thứ ba đề nghị xác lập sở hữu nhà nước vềđất đai. Nhóm ý kiến thứ tư ủng hộ sở hữu toàn dân (với ý nghĩa sở hữuchung của mọi người dân Việt Nam ) về đất đai, đồng thời nỗ lực đitìm một cơ chế hiện thực hóa quyền của người dân hiệu quả hơn.
Quan điểmcủa tác giả bài viết này là ủng hộ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai,nhưng phải đổi mới nhiều nội dung trong cơ chế hiện thực hóa chế độ đó.
Trước khi trình bày quan điểm của mình, tác giả xinđưa ra những lý do không ủng hộ sở hữu tư nhân đất đai, đa dạng hóa sởhữu đất đai hoặc sở hữu nhà nước về đất đai.
1. Tại sao không sở hữu tư nhân hoặc đa sở hữu đất đai?
1.1. Sở hữu tư nhân đất đai trong điều kiện nước ta hiện nay có nguycơ dẫn đến một số hệ lụy mà chúng ta không mong muốn.
Một là, trong điềukiện nước ta đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, việcthiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tưcho phát triển kinh tế-xã hội. Bởi vì, quá trình công nghiệp hóa, đôthị hóa đòi hỏi chuyển một diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vàomục đích phi nông nghiệp. Sở hữu tư nhân đất đai sẽ đặt nhà đầu tư vàochỗ phải thỏa thuận với quá nhiều người dân, chỉ một người không đồng ývới phương án chung là kế hoạch đầu tư khó triển khai thực hiện.
Việcngười dân ra giá đến 1 tỷ đồng cho 1m2 đất ở Trung tâm Hà Nội đã làminh chứng đầy thuyết phục cho lo ngại này. Mặt khác, những người tư hữuriêng lẻ cũng khó có điều kiện thỏa thuận với nhà đầu tư theo giá cólợi cho họ. Kết quả là sở hữu tư nhân đất đai vừa cản trở quá trình pháttriển kinh tế-xã hội của đất nước, vừa không có cơ chế bảo vệ đượclợi ích của nhà đầu tư và của chính người dân.
Hai là, sở hữu tư nhânđất đai sẽ dẫn đến kết quả không mong muốn là tập trung đất đai trongtay một số người có nhiều tiền, dẫn đến có người sở hữu quá nhiều đất,người không có tấc đất cắm dùi. Dễ thấy điều này thông qua các minhchứng trong lịch sử.
Với sở hữu tư nhân đất đai, người sở hữu đất cóquyền đối xử với đất như đối với tài sản riêng, có quyền mua bán, chuyểnnhượng, bỏ hoang không sử dụng, cũng như chuyển mục đích sử dụng. Khôngai có quyền thu hồi, sử dụng đất của người khác nếu không được chủ đấtcho phép. Do đất là tài sản riêng nên người dân có quyền định đoạt nónhư hàng hóa trên thị trường bất động sản. Lợi dụng khó khăn hoặc kémhiểu biết của nông dân, một bộ phận người có tiền (từ nhiều nguồn khácnhau mà chúng ta không kiểm soát được) có thể thu gom đất đai để trởthành địa chủ.
Điều này đã diễn ra trong cải cách ruộng đất của chế độMỹ-Diệm những năm 60 của thế kỷ XX ở miền Nam nước ta. Ngay cả ởgiai đoạn hiện nay, nếu duy trì phổ biến sở hữu tư nhân đất đai cũng sẽdẫn đến hiện trạng người có nhiều tiền thu gom đất đai và chỉ sử dụngđất vì mục đích cá nhân như làm trang trại để nghỉ ngơi, giải trí, chothuê nhằm kiếm lời… Đây sẽ là nguyên nhân dẫn đến một bộ phận nông dânđói nghèo vì không có đất.
Chúng ta không bao giờ lại muốn: làm cáchmạng bao nhiêu năm để rồi đưa người nông dân Việt Nam trở về chế độnông nô - địa chủ như trước kia. Không thể lấy tấm gương nước Mỹ sử dụngcho Việt Nam vì bình quân đất đai trên đầu người của nước Mỹ lớn hơnViệt Nam nhiều lần, và nước Mỹ đã có tiềm lực để nuôi đa số dân cư bằngthu nhập từ các ngành phi nông nghiệp.
Nếu sự tích tụ, tập trung đất vàotay một ít người, thì bao nhiêu năm nữa chúng ta mới có thể giải quyếthết hậu quả những người nông dân không có đất, không còn kế sinh nhai,khi đa phần đất nông nghiệp được chuyển giao theo con đường sở hữu tưnhân cho một số người?
Ba là, trong chế độ sở hữu tưnhân đất đai, đành rằng Nhà nước có thể giữ lại quyền quy hoạch mục đíchsử dụng từng thửa đất và ràng buộc chủ đất thực hiện một số quy định vìmôi trường sống chung, nhưng không ai có quyền ngăn cản người chủ đấtsử dụng đất theo ý họ, vì đất là tài sản riêng của họ. Lý do này cònkhiến đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, không vì mục đíchsinh tồn của đa số dân cư.
Giả định rằng một người sở hữu trang trạirộng lớn nhưng không có nhu cầu kinh doanh đất đó có hiệu quả để kiếmlời, mà chỉ coi đất như chỗ nấp an toàn của tài sản hoặc địa điểm giảitrí tư nhân; trong khi đó lại có nhiều người nông dân sống lắt lay vìkhông có đất, không có việc làm. Khi đó ai đứng ra giải quyết vấn đề sửdụng đất hiệu quả?
Với quan niệm rằng, mưu sinh là quyền của tất cả mọingười, do đó, ngay cả khi việc sử dụng đất chưa được hiệu quả như chúngta mong muốn, nhưng nó giúp cho nhiều người nông dân khỏi chết đói thìgiao đất cho nông dân như hiện nay còn tốt hơn vạn lần chế độ sở hữu tưnhân về đất đai khiến đất đai trở thành phương tiện giữ của hay tiêukhiển của người giàu. Còn nhớ dưới thời phát xít Nhật chiếm đóng nướcta, bắt dân ta nhổ lúa trồng đay đã dẫn đến bao nhiêu người nông dân bịchết đói vào năm Ất Dậu.
Trong những năm vừa qua, khi Nhà nước cho phépngười có quyền sử dụng đất chuyển nhượng quyền này, nhiều gia đình dântộc thiểu số ở Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long đã vì khó khăn, vìtham lời trước mắt mà bán đất trở nên nghèo đói khiến Nhà nước phải cứutrợ bằng cách giao đất khác cho họ tiến hành sản xuất. Nếu đất đai thuộcsở hữu tư nhân, khi nhiều hộ nông dân nghèo mất đất, Nhà nước muốn mualại đất để giao cho họ, liệu có thể thực hiện được không?
Hiện nay, dướichiêu bài ủng hộ hiệu quả, nhiều người tuyên truyền cho sở hữu tư nhânvề đất đai, coi đó là biện pháp sử dụng đất hiệu quả mà quên đi mục tiêuxóa bỏ tình trạng dùng quyền sở hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đấtđai) để nô dịch người khác.
Hơn nữa, như K.Marx đã từng chỉ ra, quyền tưhữu có tính độc quyền về đất đai là vật cản của tiến bộ kinh tế, kỹthuật trong nông nghiệp. Thực tế phân hóa giàu nghèo trong các tư bảnphát triển hiện nay cũng chứng minh cho tính đúng đắn của kết luận này.
Chính vì thế, những người theo xu hướng xã hội chủ nghĩa (mà bản chấtcủa xu hướng này là muốn xây dựng một xã hội bình quyền, trong đó conngười không những được tự do, bình đẳng về mặt chính trị, mà còn được tựdo, bình đẳng về mặt kinh tế, do đó được tự do, bình đẳng tất yếu vềmặt xã hội) mới ủng hộ một chế độ sở hữu chung (chung nhau làm chủ chứkhông phải giao toàn quyền cho Nhà nước làm chủ) về tư liệu sản xuấtchủ yếu, trong đó có đất đai.
Song giờ đây dưới chiêu bài ủng hộ hiệuquả sử dụng đất (hiệu quả sử dụng đất theo nghĩa đem lại thu nhập bằngtiền cho người sở hữu đất) [Chưaxét đến vấn đề của cải biểu hiện dưới dạng tiền có phản ánh chính xáclượng của cải tăng thêm của xã hội hay không, chỉ xét đến tiền với tưcách thước đo của cải dược thừa nhận phổ biến thì người có đất có thunhập cao hơn có thể không phải là do sử dụng đất hiệu quả hơn, mà do đầucơ đất], một số người lý giải rằng, sở hữu toàndân về đất đai dẫn đến vô chủ và vì vô chủ nên đất được sử dụng khônghiệu quả.
Họ cũng lý giải rằng, Luật Đất đai, vì dựa trên lập trường sởhữu toàn dân nên không chính danh, không xác lập được quan hệ dân sựtrong các giao dịch về đất đai nên dẫn đến các giao dịch đất đai củanước ta không giống với thông lệ quốc tế, gây tranh chấp khi có yếu tốnước ngoài.
Ở đây, khoan chưa bàn đến việc có cho người nước ngoài tự dosở hữu đất đai, nhất là đất sản xuất hay không, nhưng người nước ngoàitrên đất Việt Nam phải tuân thủ luật pháp Việt Nam, có lẽ cũng là mộtthông lệ. Hơn nữa, các nước trên thế giới đâu có một luật đất đai giốngnhau. Nhóm ủng hộ sở hữu tư nhân về đất đai cũng lý sự rằng, Nhà nước takhông đủ năng lực quản lý đất đai.
Chính vấn đề cần bàn là cần nỗ lựcxây dựng một Nhà nước có khả năng quản lý đất đai tốt hơn thì họ lạikhông muốn bàn, vì họ cho rằng, yếu kém của Nhà nước trong quản lý đấtđai với tư cách đại diện cho sở hữu toàn dân là đương nhiên. Song chúngtôi lại không cho điều này là đương nhiên. Nếu Nhà nước không thể thaymặt xã hội quản lý tài sản chung thì đừng nói đến quốc gia xã hội chủnghĩa, mà quốc gia ổn định cũng không có .
1.2. Nhóm quan điểm ủng hộ đa sở hữu đất đai dường như có lý hơn khi lýgiải hình thức sở hữu phù hợp với đặc điểm của các thửa đất sử dụng vìcác mục đích khác nhau.
Họ cho rằng, đất ở, đất sản xuất gắn bó vớingười dân lâu dài, là tài sản của họ nên áp dụng chế độ sở hữu tư nhânđể khuyến khích bảo tồn, đầu tư và sử dụng hiệu quả theo nguyên tắc thịtrường (nghĩa là lĩnh vực nào giá đất cao thì chuyển đất vào đó sử dụng)và hạn chế sự lạm dụng của cơ quan nhà nước trong thu hồi, giao đất.
Tuy nhiên, họ không tính đến sự phân hóa giàu nghèo như đã bàn đến trênkia, vì đất ở và đất sản xuất chiếm hầu hết diện tích đất tự nhiên củaquốc gia và nó cũng là đối tượng gây tranh chấp nhiều nhất. Hơn nữa, mộtđất nước, muốn có ổn định căn bản phải đảm bảo an ninh lương thực, phảisử dụng tổng quỹ đất theo quy hoạch chung hiệu quả.
Khi đó, đất chỉ cóthể giao dịch trong khuôn khổ mục đích sử dụng đất theo quy hoạch. Nóicách khác, do đất đai là một hàng hóa đặc biệt, quyền của chủ sở hữu đấtbị giới hạn nhiều mặt, nên thị trường đất đai không thể điều tiết việcphân bổ đất đai cho các lĩnh vực một cách hiệu quả. Đó là chưa nói đếnnhững khuyết tật nói chung của thị trường làm cho nó không hoàn hảo nhưmong ước của những người ủng hộ thị trường tự do.
Những người ủng hộ chế độ đa sở hữu đất đai cho rằng, các vùng đất sửdụng chung của một cộng đồng dân cư nào đó theo truyền thống, theo nhucầu có tính địa phương nên để ở chế độ sở hữu cộng đồng (tức sở hữu tậpthể). Đúng là trong quá khứ đã có những cộng đồng dân cư bảo vệ rừng,sông, hồ rất hiệu quả nhờ vào các hương ước được thừa nhận tự nguyện.
Nhưng hiện nay những tín điều tôn giáo, những ý nguyện của nhóm dân cưkhông đủ sức ngăn cản con người chiến thắng lòng tham, nhất là với quyềncư trú tự do và giao lưu quốc tế mở rộng, những kẻ xấu có thể lợi dụngsở hữu chung để chiếm đoạt ruộng đất và đem chuyển nhượng khiến các vụtranh chấp đất đai trở nên rất phức tạp. Những người theo quan điểm nàykhông tin vào một tổ chức nhà nước hùng mạnh có luật pháp, tòa án, lựclượng vũ trang ủng hộ trong xử lý quan hệ đất đai, lại đi tin vào sứcmạnh của một cộng đồng dựa trên niềm tin tinh thần.
Vấn đề không phải làkhông có những thửa đất dùng chung, mà ở chỗ họ cho rằng cần phải đadạng hóa sở hữu đất đai. Trong khuôn khổ của sở hữu toàn dân chúng tavẫn có các thửa đất dùng chung. Vấn đề là nên giao cho ai là đại diệnpháp lý quản lý đất đai dùng chung với mục đích cụ thể đã được mọi ngườithừa nhận. Giải quyết vấn đề này trong chế độ đa sở hữu không dễ hơnkhi so với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
Nhữngthửa đất sử dụng chung như đất làm đường, đất công viên, đất của côngsở, đất chưa sử dụng… , theo quan điểm của những người ủng hộ đa dạnghóa sở hữu đất đai, nên đưa về sở hữu nhà nước (tức sở hữu của bộ máycông quyền). Nếu như vậy, với loại đất này cơ quan nhà nước có quyền muabán theo giá thị trường. Ở đây không có mâu thuẫn giữa những người ủnghộ sở hữu toàn dân về đất đai và những người ủng hộ đa dạng hóa sở hữuđất đai. Cái khác biệt chỉ là cơ chế thực thi quyền của bộ máy nhà nướcđối với diện tích đất giao cho cơ quan nhà nước được đặt trong chế độchung nào.
Như vậy, theo quan điểm của nhóm ủng hộ đadạng hóa sở hữu đất đai, Việt Nam sẽ có chế độ sở hữu đất đai khôngkhác gì các nước tư bản chủ nghĩa. Đất đai, và đi cùng với nó là bấtđộng sản (phần của cải đã tích lũy lớn nhất của các quốc gia, thườngchiếm hơn 50 % của cải của một nước, ở các nước đang phát triển có thểchiếm tới 70%), sẽ nằm trong tay những người chủ khác nhau, đối xử vớinhau thuần túy trên quan điểm lợi ích, trao đổi theo giá thị trường.
Vậycứ nhìn vào cách ứng xử của các nước tư bản chủ nghĩa mà học, đâu phảinhọc công tìm con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó công bằng cho ngườilao động được tuyên bố là mục tiêu của các Đảng Cộng sản.
2. Sự phù hợp của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong điều kiện lịch sử - cụ thể nước ta hiện nay
Những người ủng hộ quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai lấy cải thiệnđiều kiện sống của người lao động làm mục tiêu tiên quyết của mình, làmlập trường lựa chọn giải pháp của mình. Nếu không kiên trì lập trườngnày chúng ta sẽ lạc lối trong mê cung của những lập luận về hiệu quả cótính thị trường, về lợi ích của nhóm dân cư thiểu số nào đó đứng đằngsau thuật ngữ tạo điều kiện cho kinh doanh, về khả năng hạn hẹp có tínhtưởng tượng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, v.v..
Hơn nữa, trong điềukiện lịch sử - cụ thể của Việt Nam, đất đai không chỉ là một phạm trùkinh tế, mà còn thuộc phạm trù chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng;đất đai là nguồn lực cho sự phát triển đất nước…
Quan điểm ủng hộ sở hữu toàn dân về đất đai dựa trên những căn cứ lịch sử khách quan sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ lập trường “Tất cả quyền lực thuộc về nhândân,” thì nhân dân phải là chủ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, đặc biệtquý giá của quốc gia là đất đai.
Đất đai là thành quả của sự nghiệp giữnước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, không thể để cho một số ngườinào đó may mắn trên thị trường có quyền độc chiếm sở hữu. Đất đai củaquốc gia dân tộc phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụngphục vụ cho mục đích chung của của toàn dân tộc, của nhân dân.
Nhiềudiện tích đất đai phải được quy định trong luật là để sử dụng chung nhưđất làm đường, công viên, bờ biển tập kết của tàu, thuyền ngư dân đánhcá, hồ nước, dòng chảy của sông… Các cơ quan giám sát tuân thủ pháp luậtphải có đủ sức mạnh để không cho phép ai lấn chiếm, sử dụng những diệntích dùng chung một cách tùy tiện.
Ở đây dùng chung cũng có nghĩa làkhông phải của cơ quan nhà nước để các cơ quan này có quyền giao hoặcchia cho ai tùy thích. Việc quyết định một phần diện tích đất đang dùngchung được chuyển sang đất dùng tư nhân phải hỏi ý kiến toàn dân (thôngqua trưng cầu dân ý) hoặc giao quyền cho cơ quan nhà nước (Quốc hội)quyết định và giám sát, với những ràng buộc điều kiện chặt chẽ để tránhviệc quyết định tùy tiện của các quan chức nhà nước. Những phần đất sửdụng tư nhân muốn chuyển thành đất dùng chung cũng phải được dân chúngủng hộ và phải thoả thuận bình đẳng với người đang sử dụng đất.
Thứ hai, sở hữu toàn dân tạo điều kiện để những người lao động có điềukiện tiếp cận đất đai tự do. Với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xãhội chủ nghĩa thế giới, nhiều người không còn tin vào chủ nghĩa xã hộivà thậm chí họ còn cho rằng Việt Nam nên bỏ đuôi “định hướng xã hội chủnghĩa” trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Song bản chất xã hội chủ nghĩa không bị cố định vào mô hình kinh tế kếhoạch hóa tập trung, quan liêu, càng không bị trói buộc vào chế độ phânphối bình quân.
Xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng coi trọng lao động,rằng lao động tạo ra xã hội loài người, tạo ra của cải và tạo ra cuộcsống ngày càng tốt hơn cho con người theo nghĩa nhân văn. Chính vì thếlao động là vinh quang, ai không lao động mà sử dụng của cải một cáchbất hợp pháp do người khác làm ra là phi đạo đức. Quảng đại quần chúnglao động phải trở thành chủ nhân của xã hội và tự tổ chức lại dưới hìnhthức xã hội tự nguyện, bình đẳng, bác ái, dân chủ. Xã hội chủ nghĩa nhưvậy mãi mãi là khát vọng chân chính của loài người.
Định hướng xã hộichủ nghĩa chính là con đường đúng đắn nhất để đưa khát vọng đó dần trởthành hiện thực trong cuộc sống. Song, mô hình nào để chúng ta có thểxây dựng được xã hội như thế ở một nước kinh tế còn đang phát triển vớibiết bao áp lực của thế giới tư bản chủ nghĩa bên ngoài và tính ích kỷtrong mỗi cá nhân chúng ta còn lớn?
Lời đáp cho câu hỏi đó là chúng tacòn đang phải tìm tòi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm; nhưng quyết khôngphải vì thế mà chúng ta quay lại con đường tư bản chủ nghĩa. Dù mô hìnhkinh tế xã hội chủ nghĩa còn chưa được hiện thực hóa, dù trình độ pháttriển kinh tế của chúng ta còn thua kém nhiều nước, nhưng không vì thếchúng ta lựa chọn con đường tư bản chủ nghĩa hy sinh quyền lợi của đa sốngười lao động, tích lũy của cải vào tay một tỷ lệ phần trăm nhỏ nhoinhững người giàu có trong xã hội.
Để tất cả mọi ngườiđều giàu lên là việc khó. Để một số nhỏ người giàu lên dễ hơn rất nhiều.Có thể nêu một ví dụ đơn giản là: nếu mỗi người dân Việt Nam từ già đếntrẻ, ai ai cũng góp chỉ 1.000 đồng thôi và dồn số tiền đó cho 1 ngườithì người nhận tiền sẽ có gần 90 tỷ đồng. Nhưng nếu Nhà nước có 90 tỷđồng (một việc không dễ đối với Nhà nước) đem chia cho tất cả người dânViệt Nam thì mỗi người được có 1.000 đồng.
Chấp nhận kinh tế thịtrường, chấp nhận động lực lợi ích cá nhân để thúc đẩy mọi người tự giáclàm việc tích cực, chấp nhận cạnh tranh để tạo áp lực sáng tạo khôngngừng, nhưng chúng ta không chấp nhận để cho kinh tế thị trường phân hóagiàu nghèo một cách tự phát, sau đó trông đợi vào lòng trắc ẩn (san sẻcủa cải cho người khó khăn hơn) của người giàu; chúng ta không chấp nhậntổng thể chế độ tư bản chủ nghĩa.
Trong điều kiện toàn cầu hóa hiệnnay, nếu Chính phủ đánh thuế cao vào giới chủ sở hữu các tập đoàn kinhtế lớn, họ có thể chuyển cơ sở sản xuất-kinh doanh của họ sang nước cómức thuế thấp hơn. Do vậy, không thể chỉ trông chờ vào công cụ điềutiết gián tiếp của Nhà nước để giải quyết công bằng.
Phải tạo cơ chếcông bằng ngay từ gốc, tức là người lao động phải có tư liệu sản xuất,trong đó có đất đai, để lao động mưu sinh. Sở hữu tư nhân đất đai sẽ làmcho người nghèo mất đất, và khi không có tư liệu sản xuất, người nghèocó thoát nghèo được không? Ngay cả các tổ chức kinh tế quốc tế rất tinvào sức mạnh của cơ chế thị trường cũng nhất trí với quan điểm “chongười nghèo cần câu chứ không cho xâu cá.”
Diễn giải theo ngôn ngữ thôngthường là phải tạo điều kiện cho người lao động làm chủ tư liệu sảnxuất để họ tự thoát nghèo. K. Marx cũng đã chế nhạo những người ủng hộbình đẳng theo nguyên tắc pháp quyền tư sản khi Người nhấn mạnh rằng thứbình đẳng hình thức đó không có giá trị gì đối với người lao động khihọ đã bị trói chặt vào điều kiện không có tư liệu sản xuất.
Thứ ba, sở hữu toàn dân về đất đai ít ra cũng cho ta cơ chế để ngườilao động có quyền hưởng lợi ích từ đất đai một cách có lợi hơn, côngbằng hơn và bình đẳng hơn. Bởi vì sở hữu toàn dân là sở hữu chung củangười Việt Nam, hiểu theo nghĩa người Việt Nam là công dân của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cộng đồng gần 90 triệu người dânViệt Nam há chẳng thể là những chủ nhân ông của đất đai trên lãnh thổViệt Nam hay sao.
Lập luận của những người đả phá sở hữu toàn dân,cho sở hữu toàn dân là không chính danh chẳng có nghĩa lý gì cả. Vấn đềlà sở hữu chung nhưng sử dụng và quản lý theo một cơ chế cụ thể mà chúngta đang bàn luận để xây dựng, nhằm có thể đạt được một lúc hai mụcđích: hiệu quả và công bằng đối với người lao động (chúng tôi nhấn mạnhngười lao động vì nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội là hưởng thụ trênthành quả lao động, không dựa trên bóc lột lao động của người khác).
Không được sao nhãng mục tiêu công bằng, vì nếu để đạt được hiệu quảbằng cách hy sinh quyền lợi của đa số người lao động sao cho của cải làmra nhiều hơn nhưng chui vào túi người giàu thì không phải là hiệu quảchúng ta mong muốn.
Thứ tư, về bản chất, sở hữu toàndân về đất đai không phải là nguồn gốc của thực tế phức tạp hiện nay vềđất đai. Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai đang đặt ra nhiều vấn đềphải giải quyết bắt nguồn không phải từ bản chất vốn có của sở hữu toàndân về đất đai, mà bắt nguồn từ sự yếu kém kéo dài trong việc không hiệnthực hóa thiết chế thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; bắtnguồn từ hệ lụy yếu kém trong quản lý đất đai cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô.
Luật Đất đai năm 2003 và phương thức Nhà nước thựchiện Luật Đất đai năm 2003 có nhiều điểm chưa hợp lý cần phải khắc phục.Vấn đề gây bức xúc nhất hiện nay ở nước ta là ở chất lượng, thái độthực thi Luật Đất đai của cơ quan và công chức nhà nước chưa tốt, tồntại quá nhiều trường hợp lạm dụng quyền lực công phục vụ cho mục tiêuriêng của cá nhân, của gia đình, của nhóm lợi ích cũng như cơ chế phânchia lợi ích từ đất chưa công bằng giữa các nhóm lợi ích khác nhau, giữangười sử dụng đất và Nhà nước.
Không khó để tìm ra những trường hợp cơquan nhà nước thu hồi đất của dân không đúng đắn (Tiên Lãng là một vídụ). Sự giàu có bất thường của các đại gia kinh doanh bất động sản trongnửa đầu thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI ở nước ta, mức chênh lệch quálớn giữa giá đất đô thị trong các dự án chuyển đổi đất nông nghiệp thànhđất đô thị và giá đền bù cho người nông dân… là những bằng chứng hiểnnhiên về phân chia lợi ích từ đất không có lợi cho người dân có quyền sửdụng đất khi bị thu hồi. Tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện,quy hoạch treo, tình trạng đất thu hồi bị bỏ hoang còn người mất đất lâmvào tình trạng thất nghiệp, khó khăn…cho thấy quản lý của Nhà nước chưatương xứng với yêu cầu cần phải có trong chế độ sở hữu toàn dân.
Nhữngvấn đề này không thể tránh né bằng cách chuyển toàn bộ quyền quản lý đócho khu vực tư nhân thông qua tư hữu hóa hoặc đa dạng hóa sở hữu đấtđai. Ngược lại, chỉ có thể giải quyết tốt các vấn đề này bằng đẩy mạnhcải cách trong các cơ quan nhà nước, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chếquản lý, sử dụng đất đai; xiết chặt kỷ luật và trách nhiệm giải trìnhcủa công chức và chuyển giao cho người dân những quyền mà người sử dụngđất thực thi có lợi hơn cơ quan nhà nước.
Một số những việc cần phải làmlà hạn chế quyền thu hồi đất một cách tùy tiện của cơ quan nhà nước chocác mục đích “gọi là” dự án phát triển kinh tế - xã hội phục vụ chonhóm lợi ích nào đó, đồng thời làm bần cùng hóa nhiều người dân, khi họkhông còn đất sản xuất.
Giá đất thu hồi đất phải tính đến sự phân chiađịa tô chênh lệch giữa xã hội (mà Nhà nước là đại diện), người có đất bịthu hồi và người nhận đất sử dụng cho mục đích mới. Nhà nước cũng phảinâng cao năng lực sử dụng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với tư cáchcông cụ quan lý vì lợi ích quốc gia.
Thứ năm, sở hữutoàn dân không phải là sở hữu nhà nước về đất đai. Dù có tuyên bố hàngnghìn lần rằng Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thì cũngkhông thể chối bỏ một thực tế là trong cấu trúc xã hội hiện thực, nhómngười làm việc trong bộ máy nhà nước (với tư cách chủ thể quản lý) cólợi ích tách biệt một cách tương đối với quảng đại nhân dân lao động(với tư cách đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước).
Ngay trong xã hộidân chủ xã hội chủ nghĩa, những người thực thi quyền lực nhà nước khôngphải là toàn dân, mà là các công chức nhà nước được xã hội ủy quyền quảnlý xã hội. Mặc dù Nhà nước chỉ là một thiết chế được người dân bầu ravà giao cho quyền thay mặt họ giám sát những cá nhân và tổ chức cụ thể,buộc mọi người phải tuân thủ những quy tắc đã nhất trí thông qua, nhưngkhi đã nắm quyền lực, công chức nhà nước có quyền bắt buộc người dântuân thủ luật.
Trong nhiều trường hợp, luật lại cũng do cơ quan nhà nướcsoạn thảo và thông qua. Rõ ràng là lợi ích của người dân với tư cáchcộng đồng người lớn nhất trong xã hội tách biệt tương đối với lợi íchcủa nhóm người thực thi quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, trong mối quan hệtương đối tách biệt đó, công dân giữ quyền quyết định. Khi thiết chếnhà nước và những cá nhân vận hành thiết chế đó không thực hiện đúngnhững gì mà nhân dân giao phó thì, nhân dân giữ quyền cắt chức họ hoặcthay đổi lại thiết chế. Thay đổi Hiến pháp, thay đổi Luật Tổ chức bộ máynhà nước là những quyền như vậy của nhân dân. Ngoài ra, những bộ luậtquan trọng, rường cột của quốc gia cũng phải lấy ý kiến người dân.
Theocách hiểu như vậy, thì sở hữu toàn dân về đất đai không phải là sở hữunhà nước (và nói chung sở hữu toàn dân về các của cải khác cũng vậy).Toàn dân, tức toàn thể công dân của một nước (chứ không phải cả ngườinước ngoài) và thiết chế đại diện chung cho họ là Nhà nước chia nhauquyền của chủ sở hữu đất đai theo Hiến pháp và Luật pháp mà họ đã chấpnhận.
Do đó, nếu chúng ta nhất trí đất đai thuộc sở hữu nhà nước thì cónghĩa là công dân không còn chút quyền nào đối với đất đai, giống nhưngân sách nhà nước, Nhà nước được toàn quyền sử dụng đất đai. Theo cáchhiểu như vậy, sở hữu nhà nước về đất đai là một kiến nghị “nguy hiểm”,có thể kéo tuột chúng ta trở về chế độ phong kiến coi đất đai là củavua, vua muốn thu lại hay muốn ban cho ai là quyền của vua.
Sở hữu toàn dân về đất đai là sở hữu chung của toàn dân, nhưng có sựphân chia việc thực hành quyền sở hữu giữa người sử dụng đất và Nhànước. Đó là cơ chế mà chúng tôi muốn ủng hộ. Bản chất của cơ chế đó làphân chia một cách hợp lý các quyền của chủ sở hữu đất đai giữa ngườidân và Nhà nước, cũng như giữa các cơ quan nhà nước các cấp. Luật Đấtđai năm 2003 và các văn bản pháp luật liên quan đã trao cho người dânkhá nhiều quyền: sử dụng (theo quy hoạch của Nhà nước), chuyển đổi,chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, thừa kế, góp vốn…
Về cơ bản người dân đãcó gần hết quyền của chủ sở hữu cho phép họ đầu tư, sử dụng đất hiệuquả theo năng lực của họ. Một số hạn chế của quyền chủ sở hữu mà ngườisử dụng đất không có là: không được tùy ý chuyển mục đích sử dụng đất;hạn điền; thời gian giao đất hữu hạn; phải giao lại đất cho Nhà nước đểsử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, mục đích công cộng.
Tương ứngvới mở rộng quyền cho người sử dụng đất, quyền của cơ quan nhà nước vớitư cách đại diện cho toàn dân thống nhất quản lý đất đai trong cả nướcđược quy định trên các mặt sau: quy định mục đích sử dụng cho từng thửađất (bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); thu hồi đất phục vụ các mụcđích an ninh, quốc phòng, mục đích công cộng; thu một số khoản dựa trênđất. So sánh với luật đất đai của một số nước duy trì tư hữu về đất đai,quyền của người sử dụng đất của chúng ta cũng không thua kém mấy vàquyền của Nhà nước cũng không quá nhiều.
Điều này cho thấy không có sựkhác biệt quá lớn về phương diện tạo quyền tự chủ cho người sản xuấtkinh doanh sử dụng đất hiệu quả giữa chế độ sở hữu toàn dân về đất đaicủa nước ta và chế độ tư hữu đất đai ở nước khác. Ngược lại, hai chế độnày có xu hướng tiến tới một điểm chung khi Nhà nước trong các nước cóchế độ tư hữu về đất đai can thiệp vào lĩnh vực quản lý và sử dụng đấtđai để bảo vệ môi trường sống chung cũng như đáp ứng các yêu cầu chungcủa quốc gia, địa phương. Nói cách khác, ở những nước này có một chế độtư hữu hạn chế về đất đai.
Ở nước ta, xu hướng mở rộng quyền cho ngườisử dụng đất và giới hạn quyền của Nhà nước ở những mục đích bảo vệ môitrường sống chung và an ninh quốc gia cũng dẫn đến một chế độ sở hữu hạnchế của người sử dụng đất.
Thứ sáu, sở hữu toàn dânvề đất đai đem lại nhiều lợi ích phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thểcủa Việt Nam . Không những không cản trở quá trình sử dụng đất hiệuquả ở phương diện vi mô của người sử dụng đất cũng như ở phương diện lưuchuyển quyền sử dụng đất trên thị trường bất động sản, chế độ sở hữutoàn dân còn đem lại nhiều lợi ích phù hợp với đặc thù của nước ta, như:
- Chế độ sở hữu toàn dân nhấn mạnh quyền của ngườidân trong sử dụng quyền của mình để cùng nhau giải quyết các vấn đề bấtđồng trong sử dụng và phân chia lợi ích từ đất. Bởi vì, với chế độ phápquyền xã hội chủ nghĩa, người dân có quyền cùng nhau xây dựng Hiến phápquy định về cung cách sống chung và quyền hạn của Nhà nước trong xã hội.
Với việc quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp,khi đa số công dân bị bất lợi trong phân chia lợi ích từ đất đai, họ cóthể yêu cầu Nhà nước sửa Luật Đất đai phục vụ mục đích chung của côngdân, sửa chữa những mất công bằng trong phân phối lợi ích từ đất đai docơ chế thị trường đem lại.
Nếu Hiến pháp tuyên bố sở hữu tư nhân về đấtđai thì nhân danh quyền chủ sở hữu, bộ phận nhỏ dân cư sở hữu nhiều đấtđai sẽ không cho phép đa số còn lại thay đổi chế độ phân phối lợi ích từđất đai.
- Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tránhcho xã hội chúng ta rơi vào tình trạng bất ổn do một số người có thể đòihỏi xem xét lại các quyết định lịch sử về đất đai nếu như duy trì chếđộ sở hữu tư nhân về đất đai. Bởi vì, với tuyên bố đất đai là thuộc sởhữu chung của mọi công dân Việt Nam được thực thi theo cơ chế Nhà nướcđược toàn dân ủy quyền cho việc giao đất cho hộ gia đình và tổ chức sửdụng (về cơ bản đã giao xong) và Nhà nước được ủy quyền quản lý đất đaibảo đảm quá trình sử dụng đất đai làm sao để lợi ích của người sử dụngđất đai thống nhất với lợi ích chung của quốc gia. Khi đó, không có vấnđề tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân.
Việc giao đất hay cải cách quảnlý của Nhà nước theo hướng mở rộng hơn nữa quyền của người sử dụng đấtcó lợi cho người lao động, nhất là có lợi cho nông dân, những người trựctiếp sử dụng đất với tư cách tư liệu sản xuất, chỉ là vấn đề tiếp theocủa những quyết định đã có trong lịch sử, không phải là một cuộc đảo lộnlịch sử. Cách làm và quan niệm như vậy dễ đưa đến sự đồng thuận cầnthiết của cả dân tộc trong bối cảnh nước ta còn không ít khó khăn hiệnnay. Về mặt thực tế, duy trì sở hữu toàn dân trong điều kiện hiện nay làcách làm tốt nhất để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội.
Nếu thừa nhậnsở hữu tư nhân đất đai, sẽ diễn ra các cuộc tranh đấu đòi lại quyền sởhữu nhà, đất trong quá khứ, sẽ có cuộc lục soát lại những gì chúng ta đãlàm trong cải cách ruộng đất, trong thu hồi đất, chia nhà bỏ hoang chocán bộ và người dân những năm sau chiến tranh. Chẳng có gì lý giải đượctư hữu của chúng ta bây giờ tốt hơn tư hữu thời trước cách mạng. Cũngkhông bõ công khi rũ rối lịch sử để rồi không đem lại lợi ích thực tếgì. Tại sao không sửa đổi theo tiến trình lịch sử, sử dụng những điềukiện đã có để tiến tới những điều kiện tốt hơn, trong đó quyền của ngườidân đối với đất đai vẫn được bảo toàn mà xã hội không lâm vào tìnhtrạng bất ổn.
Nói cách khác, ngày nay chế độ sở hữuđất đai bao gồm một tổ hợp quyền pháp lý mà đằng sau đó là quyền lợikinh tế. Một cách khôn khéo, không nên rũ tung vấn đề đất đai lên để làmlại một lần duy nhất và mãi mãi trong Hiến pháp và Luật Đất đai. Ngượclại, quan hệ đất đai phải được hoàn chỉnh dần theo tiến trình lịch sử,trong đó quyền của người lao động được tiếp cận đất phải được ưu tiênbảo vệ. Hiến pháp và Luật Đất đai có thể sửa đổi, nhưng vận mệnh của dântộc tiến đến một xã hội giàu có và công bằng cho người lao động, thìkhông thể thay đổi.
Thứ bảy, đất đai là tài sản chungcủa dân tộc nên không cho phép Chính phủ hay chính quyền địa phươngchuyển nhượng cho người nước ngoài một cách tự do như đối với công dânViệt Nam. Nếu không quy định những điều kiện chặt chẽ về sở hữu đất,nhất là đất sản xuất của người nước ngoài, nếu chúng ta thừa nhận sở hữutư nhân đất đai và cho phép người nước ngoài thỏa thuận mua bán đất vớitư nhân, thì nguy cơ mất nước từ hệ lụy của nền kinh tế thị trường sẽthành hiện thực và thành quả đấu tranh kiên cường để giành độc lập củadân tộc ta sẽ có nguy cơ bị triệt tiêu bởi thế lực của đồng tiền.
Chắchẳn trong số chúng ta, không ai muốn ở thủ đô Hà Nội hay bất cứ một nơinào trên đất nước ta, sẽ hình thành một khu phố của người nước ngoài,nơi người Việt Nam khó có thể đi lại tự do. Nhưng nếu chúng ta chophép người nước ngoài mua nhà đất một cách tự do, những người có nhiềutiền và đang được lợi từ tỷ giá chính thức khiến đồng Việt Nam bị đánhgiá cao dễ, dàng sở hữu nhiều diện tích đất ở nước ta. Khi đó, nhân danhquyền của chủ nhà, họ sẽ đặt hàng rào đối với người Việt Nam .
Tóm lại, theo chúng tôi, cần phải tiếp cận sở hữu toàn dân về đất đaimột cách hiện thực theo những quyền mà sở hữu đất đai có được (cũng cầnnhấn mạnh rằng, các quyền này không cố định một cách cứng nhắc mà có thểthay đổi theo thời gian cũng như tính năng của đối tượng sở hữu) vàphân chia quyền đó một cách hợp lý giữa người dân và cơ quan nhà nước.Có thể hiểu khái quát cách chia đó như sau:
+ Đối vớidiện tích đất dùng chung, không ai, tổ chức nào được phép sử dụng riêngvì lợi ích của họ. Nhà nước, với sự ủy quyền của xã hội phải đảm bảo sựtuân thủ đó. Có nghĩa là cơ quan nhà nước cũng không được tùy ý sử dụnghoặc giao cho ai đó sử dụng mà không đúng các quy định trong Luật Đấtđai là đất dùng chung.
+ Đối với những diện tích đấtđược sử dụng chung cho một cộng đồng có tính địa phương (như công viêncây xanh, đường nội bộ…) giao trách nhiệm cho chính quyền địa phươngquản lý chỉ để dùng chung ở cộng đồng dân cư đó, chính quyền địa phươngkhông được phép giao diện tích đất dùng chung đó cho bất cứ tổ chức, cánhân nào sử dụng vì mục đích riêng của họ.
+ Đất côngsở được giao cho các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng, tổ chức đoàn thể,…và chỉ được sử dụng cho mục đích cung cấp dịch vụ công. Nếu cơ quan nhànước,… không có nhu cầu sử dụng đất công đó thì phải giao về cho quỹ đấtcông được sử dụng theo những quy định phù hợp với ý nguyện của dânchúng được ghi trong Luật Đất đai (dự trữ cho hoạt động công hoặc chuyểngiao cho các bộ phận dân cư sử dụng). Cơ quan nhà nước không có quyềnbán đất công theo giá thị trường, trừ trường hợp chuyển giao cho dân cưvà thu hồi tiền về ngân sách nhà nước.
+ Đa phần diệntích đất sản xuất và đất ở người dân giữ lại (chứ không phải Nhà nướcgiao cho dân chúng như cách hiểu hiện nay) cho mình hầu hết quyền củangười sở hữu như chiếm giữ, sử dụng, giao dịch trên thị trường đất đai,thế chấp và thừa kế. Đây là quyền hoàn toàn chính đáng trong khái niệm“sở hữu toàn dân”. Bởi vì người dân là chủ thể chính chứ không phải Nhànước. Người dân giữ lại cho mình đa số quyền, chỉ giao lại cho Nhà nướcmột số quyền hạn chế (trong chế độ nhà nước pháp quyền, nhà nước là côngcụ của người dân chứ không phải thể chế đứng trên người dân.
Nhà nướcphải hoạt động theo luật pháp mà nhân dân, thông qua những tổ chức củamình, xây dựng nên). Nhân dân giao lại cho Nhà nước những quyền gì?
Quyền xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể sử dụng đất đai để cho hoạtđộng sử dụng đất đai của từng cá nhân và tổ chức không làm giảm hiệu quảsử dụng đất đai chung của quốc gia. Nhà nước phải hoàn thành nhiệm vụxây dựng quy hoạch, kế hoạch và giám sát tuân thủ quy hoạch, kế hoạchcho tốt. Quyền bảo vệ đất đai và môi trường để ngăn cản những hành vi vụlợi cá nhân của người dân làm tổn hại lợi ích chung.
Quyền bảo hộ quyềnchính đáng của dân cư đối với đất đai đã được quy định theo luật. Quyềnbảo toàn lãnh thổ quốc gia trước các hành vi xâm phạm của nước ngoài.Tất nhiên, người dân phải cung cấp tài chính qua thuế cho Nhà nước đểduy trì các hoạt động của mình. Ở đây chỉ xin nhấn mạnh, người dân mớilà chủ thể, do đó người dân mới có quyền quyết định Nhà nước được làmgì, chứ không phải ngược lại như Luật Đất đai quy định hiện nay là Nhànước quyết định cho người dân quyền gì đối với đất đai.
Với cách hiểu như trên, sở hữu toàn dân về đất đai không phải là một“phạm trù, thuật ngữ lý thuyết, trừu tượng thuần túy, không có giá trịthực thi”, càng không phải là sự giáo điều, cố gắng du nhập từ Liên Xôvào Việt Nam như một số học giả to tiếng trên các diễn đàn. Sở hữu toàndân về đất đai là điều kiện nền tảng để người lao động Việt Nam cócơ sở pháp lý bảo vệ lợi ích của chính mình.
Những sai lầm của chúng ta,khi giao quyền quá lớn cho bộ máy nhà nước, nhất là cho chính quyền địaphương đã dẫn đến các hiện tượng lạm dụng quyền này vì lợi ích cá nhân,vì lợi ích nhóm trá danh lợi ích địa phương, đất nước, xâm phạm quyềncủa công dân đối với đất đai và phân chia lợi ích từ đất đai không cólợi cho người lao động (nhất là không có lợi cho nông dân, những ngườigiữ quyền sở hữu đất chính đáng).
Những điều đó phải được và có thể đượcsửa đổi theo cách đặt lại vấn đề là người dân giao quyền đối với đấtđai cho Nhà nước chứ không phải Nhà nước giao đất cho người dân. Nếunhất trí với quan điểm này, thì cần thảo luận xem dân nên giao quyền gìcho nhà nước trung ương, chính quyền địa phương để đất đai được quản lývà sử dụng tốt nhất.
Hơn nữa, khi hiểu là người dân giao quyền cho Nhànước thì không còn chuyện Nhà nước thu hồi đất của người này giao chongười khác, mà để người dân tự chuyển mục đích sử dụng đất theo quyhoạch, kế hoạch chung và theo cơ chế thị trường. Nhà nước cũng không cóquyền định giá đất, ngoại trừ việc định giá có tính quy ước trong thựchiện thu thuế tài sản đất.
Sở hữu toàn dân tạo điềukiện để Nhà nước xã hội chủ nghĩa bảo vệ lợi ích của người lao động tốtnhất. Những sai lầm và thiếu sót của cơ quan nhà nước thời gian quatrong lĩnh vực đất đai không phải là bản chất của Nhà nước xã hội chủnghĩa và có thể sửa chữa được. Vấn đề là chúng ta phải thực sự xây dựngđược thiết chế kiểm soát để Nhà nước ta phải hành động như Nhà nước xãhội chủ nghĩa.
Có hai thiết chế đảm nhận nhiệm vụ này là Đảng Cộng sảnvà các tổ chức chính trị-xã hội của nhân dân. Đảng Cộng sản lãnh tráchnhiệm là lực lượng tiên phong của những người lao động phải hành độngnhư một tổ chức giám sát Nhà nước hiệu quả nhằm bảo vệ quyền và lợi íchcủa quảng đại người lao động - cơ sở xã hội và lực lượng hỗ trợ sự giámsát của Đảng. Nếu Đảng Cộng sản không hoàn thành nhiệm vụ này thì có thểnói uy tín và vai trò thực tế của Đảng sẽ giảm sút.
Đặc biệt, Hiến pháp và luật pháp phải quy định quyền của người dân vềtiếp cận thông tin về đất đai, về các hoạt động quản lý nhà nước về đấtđai để người dân thực thi quyền giám sát. Ở đây không nên hiểu là Nhànước ban phát thông tin cho người dân. Ngược lại, với tư cách công bộccủa dân, Nhà nước có nghĩa vụ và trách nhiệm cung cấp thông tin để báocáo với người dân (thông qua các cơ quan truyền thông đại chúng và Quốchội) để người dân có cơ sở hiện thực giám sát hoạt động của Nhà nước. Đãđến lúc phải nhận thức rằng, chân lý ngày nay thuộc về nhận thức vànguyện vọng của đa số dân cư./.