Ứng phó El Nino: Nâng cao năng lực cảnh báo sớm để giảm rủi ro khí hậu cực đoan

Nửa cuối năm 2026, đầu năm 2027 được dự báo là thời gian chịu tác động trực tiếp và đậm nét từ hình thái El Nino với tính chất khốc liệt có thể tương đương với đợt El Nino lịch sử năm 2015-2016.
Cảnh báo xuất hiện nhiều thiên tai cực đoan trong giai đoạn từ nay đến cuối năm. (Nguồn: Vietnam+)

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng tính cực đoan, khó lường và El Nino được dự báo có khả năng tác động mạnh đến Việt Nam từ nửa cuối năm 2026 đến đầu năm 2027, việc nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và chuyển hóa thông tin khoa học thành hành động ứng phó kịp thời đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Đây cũng là giải pháp then chốt giúp các bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, bảo đảm an ninh nguồn nước, lương thực và phát triển bền vững trong thời gian tới.

El Nino mạnh làm gia tăng thiên tai cực đoan

Theo các đánh giá mới nhất của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), hệ thống khí hậu toàn cầu tiếp tục ghi nhận nhiều dấu hiệu bất thường. Trong đó, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, với các nguy cơ ngày càng gia tăng từ nắng nóng, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, mưa lớn cực đoan, lũ lụt và sạt lở đất.

Các dự báo hiện nay của cơ quan khí tượng cho thấy nửa cuối năm 2026 và đầu năm 2027 có khả năng chịu tác động rõ nét của hiện tượng El Nino. Đáng chú ý, hiện tượng này có thể phát triển với cường độ mạnh, tương đương đợt El Nino lịch sử giai đoạn 2015-2016 (một trong những sự kiện mạnh nhất từng được ghi nhận).

Nếu kịch bản trên xảy ra, nhiều khu vực, đặc biệt là Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, có nguy cơ đối mặt với tình trạng nắng nóng gay gắt, thiếu hụt lượng mưa, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn nghiêm trọng. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp mà còn gây áp lực lớn lên tài nguyên nước, năng lượng, môi trường và đời sống dân sinh.

Phát biểu tại Hội nghị Dự báo, cảnh báo sớm tình hình khí tượng thủy văn năm 2026, diễn ra sáng 23/6, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành nhấn mạnh: “Chúng ta đang chứng kiến hệ thống khí hậu toàn cầu biến động ngày càng phức tạp, cực đoan và phi quy luật. Báo cáo từ WMO chỉ ra rằng nhiệt độ trung bình toàn cầu liên tục duy trì ở mức cao kỷ lục, kéo theo những thay đổi sâu sắc về chế độ mưa, nguồn nước và làm gia tăng tính khốc liệt của các hiện tượng thiên tai.”

Đặc biệt, các mô hình giám sát khí hậu trong nước và quốc tế đều thống nhất nhận định về sự hình thành và phát triển rõ ràng của hiện tượng El Nino từ nửa cuối năm 2026. Sự cộng hưởng giữa chu kỳ El Nino cường độ cao với xu thế ấm lên toàn cầu mở ra nguy cơ lớn về sự xuất hiện của một trong những đợt El Nino mạnh nhất từng được ghi nhận, đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc chủ động giám sát các nguy cơ nắng nóng kéo dài, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn.

Đối với Việt Nam, giai đoạn nửa cuối năm 2026 và đầu năm 2027 được
dự báo sẽ là thời gian chịu tác động trực tiếp và đậm nét từ hình thái khí hậu này, với tính chất khốc liệt có thể tương đương với đợt El Nino lịch sử năm 2015-2016.

“Bài học từ mười năm trước vẫn còn nguyên giá trị, khi hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng, đặc biệt tại Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, khiến hơn 100.000 hécta lúa bị thiệt hại, trên 210.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt và làm đứt gãy các chuỗi cung ứng nông sản trọng điểm,” ông Thành nói.

Không chỉ vậy, thực tiễn cũng chứng minh El Nino không chỉ mang lại khô hạn, mà còn đi kèm với các hiện tượng dị thường trái quy luật, điển hình là trận mưa lũ lịch sử tại Quảng Ninh vào giữa năm 2015. “Điều này phản ánh tính chất lưỡng cực của thời tiết dưới tác động của biến đổi khí hậu, đặt ra thách thức cho công tác dự báo và ứng phó tại tất cả các vùng miền,” ông Thành nhấn mạnh.

Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai

Nhìn từ góc độ quản lý vĩ mô, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành, những rủi ro từ khí tượng thủy văn hiện nay không còn là bài toán riêng lẻ của một ngành, một lĩnh vực mà đã trở thành thách thức mang tính hệ thống đối với sự phát triển bền vững quốc gia. Dù vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhìn nhận rằng trong thách thức luôn tồn tại những cơ hội nếu các bên chủ động chiến lược thích ứng.

“Lợi thế cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu toàn cầu không nằm ở việc chịu tác động ít hay nhiều, mà nằm ở năng lực dự báo sớm hơn, hành động nhanh, điều hành khoa học và khả năng chống chịu tốt hơn,” ông Thành nói.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành phát biểu. (Ảnh: PV)

Ông Thành cũng lưu ý Việt Nam sở hữu những nền tảng thuận lợi từ hệ thống hạ tầng thủy lợi, các công trình kiểm soát nguồn nước được đầu tư bài bản, cùng kho tàng kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong quản lý rủi ro thiên tai. Đồng thời, vị thế quốc tế của ngành khí tượng thủy văn nước nhà ngày càng được khẳng định khi chúng ta đang vận hành hiệu quả Trung tâm Hỗ trợ Cảnh báo thời tiết nguy hiểm và lũ quét khu vực Đông Nam Á.

"Vì vậy, nếu phát huy tối đa các nguồn lực này, chuyển hóa thông tin dự báo chính xác thành hành động chỉ đạo kịp thời, Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ sinh kế nhân dân," ông Thành lưu ý.

Với tinh thần đó, Thứ trưởng Lê Công Thành nhấn mạnh để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trên, ngành khí tượng thủy văn cần quyết liệt thực hiện việc chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy dự báo hiện tượng sang tư duy dự báo dựa trên tác động; khẩn trương hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và xây dựng hệ thống chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực.

Đồng thời các bộ, ban, ngành, chính quyền các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp chặt chẽ với ngành khí tượng thủy văn để xây dựng, hoàn thiện các kịch bản ứng phó chi tiết, linh hoạt, quyết tâm chuyển hóa nguy cơ thành cơ hội phát triển; tập trung cung cấp các luận cứ khoa học, thực tiễn sắc bén để phục vụ cho tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách của ngành, trọng tâm là việc nghiên cứu, sửa đổi Luật Khí tượng Thủy văn theo hướng hiện đại, đồng bộ.

“Hành lang pháp lý mới phải thúc đẩy việc phát triển dịch vụ khí hậu, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thiên tai trong kỷ nguyên số. Đây cũng là bước đi cụ thể để Việt Nam thực hiện hóa cam kết đối với sáng kiến ‘Cảnh báo sớm cho tất cả mọi người’ của Liên Hợp Quốc, phấn đấu trở thành quốc gia hình mẫu trong khu vực về năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu vào năm 2027,” ông Thành nhấn mạnh.

Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, cũng cho biết các hiện tượng thời tiết cực đoan đang dần trở thành “trạng thái bình thường mới.” Thực tế này đòi hỏi các hệ thống quản lý rủi ro phải thay đổi tương ứng. “Dữ liệu đơn thuần không hiệu quả trong việc bảo vệ con người. Một mô hình dự báo tiên tiến nhất cũng chỉ phát huy hiệu quả khi nó tới được với người dân ở tuyến đầu,” bà Ramla Khalidi lưu ý.

Vì vậy, thông qua quá trình làm việc với các hộ nông dân sản xuất nhỏ ở Tây Nguyên và các cộng đồng ven biển, UNDP nhận thấy khoảng cách lớn nhất nằm ở công tác truyền thông. Đó là việc chuyển đổi các dữ liệu khí tượng phức tạp thành những thông điệp đơn giản, mang tính địa phương và đáp ứng yêu cầu về giới, để người dân có thể hiểu và hành động kịp thời.

Đánh giá cao những nỗ lực hợp tác giữa Việt Nam và Canada trong lĩnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu, Đại sứ Canada tại Việt Nam Jim Nickel cho rằng hội nghị hôm nay khẳng định sự hợp tác ngày càng sâu sắc giữa Canada và Việt Nam trong việc tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm, nâng cao năng lực dự báo dựa trên dữ liệu và hỗ trợ các cộng đồng dễ bị tổn thương chuẩn bị tốt hơn trước thiên tai là những yếu tố then chốt để tăng cường khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục