Tỉnh Vĩnh Long đặt mục tiêu chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị trong nước, quốc tế giai đoạn 2026-2030.
Trọng tâm của tỉnh là tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu, tăng liên kết với doanh nghiệp, đẩy mạnh chế biến và ứng dụng khoa học - công nghệ.
Với khoảng 480.802 ha đất nông nghiệp, chiếm gần 70% diện tích tự nhiên, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Vĩnh Long phấn đấu đến năm 2030, giá trị gia tăng ngành nông nghiệp tăng bình quân trên 2,7%/năm, chiếm khoảng 23,6% GRDP; năng suất lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân khoảng 10,3%/năm.
Giá trị sản xuất bình quân đạt khoảng 360 triệu đồng/ha đất trồng trọt và 700 triệu đồng/ha đất nuôi trồng thủy sản; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 8-10%/năm.
Tỉnh đặt mục tiêu tỷ lệ giá trị sản phẩm nông, lâm, thủy sản được sản xuất theo hình thức hợp tác, liên kết phấn đấu đạt từ 40% trở lên; sản phẩm sản xuất theo quy trình tốt, ứng dụng công nghệ cao gắn với chuyển đổi số đạt từ 30% trở lên. Giá trị gia tăng công nghiệp chế biến nông sản phấn đấu tăng khoảng 10%/năm trở lên.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Châu Văn Hòa, tỉnh xác định tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu và tăng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Vĩnh Long tập trung phát triển các vùng sản xuất hàng hóa quy mô phù hợp, gắn với nhu cầu thị trường; cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn chất lượng cho các sản phẩm chủ lực.
Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông sản, nhất là chế biến sâu; phát triển hệ thống kho bãi, logistics và dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm chi phí, hạn chế tổn thất sau thu hoạch. Các địa phương được định hướng chủ động chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi có giá trị cao, phù hợp điều kiện sinh thái và thị trường.
Đặc biệt, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số được triển khai trong sản xuất, quản lý và tiêu thụ nông sản. Tỉnh tập trung nghiên cứu, chuyển giao các mô hình canh tác tiên tiến, sản xuất bền vững, phát thải thấp; đồng thời triển khai các chương trình phát triển một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển ngành dừa, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, ngân hàng giống nông nghiệp và chuyển đổi số ngành nông nghiệp, môi trường.
Trong trồng trọt, Vĩnh Long phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 465.000 ha gieo trồng cây hàng năm, sản lượng 5,89 triệu tấn; diện tích cây lâu năm khoảng 243.240 ha, sản lượng 4,48 triệu tấn. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng bình quân khoảng 2,5%/năm; tỷ lệ sản phẩm được sản xuất theo hình thức hợp tác, liên kết đạt 40-45%.
Cùng với phát triển vùng nguyên liệu, tỉnh sẽ tăng cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý; ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và cung cấp thông tin thị trường.
Chăn nuôi tập trung vào bò thịt, bò sữa, heo và gia cầm theo hướng trang trại, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp được khuyến khích tham gia các chuỗi liên kết từ giống, thức ăn đến chế biến, tiêu thụ.
Đến năm 2030, ngành chăn nuôi phấn đấu tăng giá trị sản xuất bình quân 3-4%/năm, sản lượng thịt hơi các loại khoảng 430.000 tấn; tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi được sản xuất theo hình thức hợp tác, liên kết đạt khoảng 40%.
Đối với thủy sản, tỉnh chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng sang nâng giá trị gia tăng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Đến năm 2030, giá trị sản xuất thủy sản phấn đấu tăng bình quân 4,5-5%/năm; tổng sản lượng khoảng 1,292 triệu tấn, trong đó nuôi trồng 988.000 tấn và khai thác 304.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt 0,8-1 tỷ USD. Vĩnh Long định hướng phát triển nuôi trồng theo hướng thâm canh, công nghệ cao, an toàn sinh học và thích ứng biến đổi khí hậu.
Vùng nước mặn, lợ tập trung phát triển tôm thẻ chân trắng công nghệ cao, mô hình tôm - lúa, tôm - rừng, cua biển, nghêu; vùng nước ngọt phát triển cá tra, cá lóc, tôm càng xanh và các loài thủy sản có giá trị kinh tế.
Trong khai thác, tỉnh tổ chức lại đội tàu theo hướng giảm khai thác ven bờ, tăng khai thác xa bờ, thực hiện nghiêm các quy định chống khai thác IUU; đồng thời tăng cường công nghệ bảo quản sau thu hoạch, quản lý dữ liệu và dự báo ngư trường.
Theo Sở Nông Nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, giá trị sản xuất toàn ngành năm 2025 đạt trên 158.400 tỷ đồng, tăng bình quân 3,73%/năm. GRDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 73.820 tỷ đồng, chiếm 32,65% cơ cấu GRDP toàn tỉnh.
Giá trị sản xuất đạt khoảng 240 triệu đồng/ha đất sản xuất nông nghiệp và 550 triệu đồng/ha đất nuôi trồng thủy sản, tăng 1,2-1,5 lần so với năm 2020. Diện tích sản xuất ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch gắn với truy xuất nguồn gốc đạt khoảng 81.000 ha.
Ông Lâm Văn Tân, Giám đốc Sở Nông Nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cho biết, tỉnh tiếp tục xác định nông nghiệp là một trong những trụ cột của nền kinh tế, trong đó tập trung tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển sản xuất theo chuỗi và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thời gian tới, tỉnh sẽ định hướng phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp lợi thế từng tiểu vùng, gắn với nhu cầu thị trường và thích ứng biến đổi khí hậu; hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp, đẩy mạnh cơ giới hóa, chế biến nông sản và phát triển sản phẩm OCOP.
Các hợp tác xã, tổ chức kinh tế hợp tác được củng cố để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị từ cung ứng đầu vào, sản xuất, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ, qua đó nâng cao thu nhập và thúc đẩy chuyển dịch lao động nông thôn./.
Vĩnh Long tạo sức bật cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khoa học, công nghệ