Di sản số: Con đường mở rộng tiếp cận và bảo tồn di sản văn hóa

Để di sản số đến được với công chúng, các bảo tàng và địa phương phải giải quyết nhiều công việc sau khâu số hóa: lưu trữ dữ liệu, chuẩn hóa thông tin, xây dựng nội dung và bố trí người vận hành.

Sự dịch chuyển các bảo tàng từ những “kho lưu trữ tĩnh” thành “không gian trải nghiệm sống động,” đóng vai trò động lực cho công nghiệp văn hóa. (Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN)
Sự dịch chuyển các bảo tàng từ những “kho lưu trữ tĩnh” thành “không gian trải nghiệm sống động,” đóng vai trò động lực cho công nghiệp văn hóa. (Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN)

Công nghệ số đang mở rộng khả năng lưu giữ, nghiên cứu và giới thiệu di sản. Từ mô hình hiện vật 3D đến không gian tham quan trực tuyến, người xem có thể khám phá những chi tiết trước đây khó tiếp cận.

Tuy nhiên, để di sản số đến được với công chúng, các bảo tàng và địa phương phải giải quyết nhiều công việc sau khâu số hóa: lưu trữ dữ liệu, chuẩn hóa thông tin, xây dựng nội dung và bố trí người vận hành.

Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy hiệu quả của chuyển đổi số cần được nhìn từ khả năng bảo tồn giá trị gốc và mức độ sử dụng nguồn dữ liệu đã tạo ra.

Từ số hóa hiện vật đến mở quyền tiếp cận

Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đã số hóa 1.113 hiện vật, song công chúng mới có thể truy cập 113 hiện vật. Theo bà Phạm Thị Diệu, Phó Giám đốc phụ trách bảo tàng, hàng ngàn hiện vật còn lại đang chờ hệ thống trưng bày thuộc dự án mở rộng. Đơn vị hy vọng hoàn thành hệ thống này trong năm 2027 để đưa số hiện vật đã số hóa ra phục vụ tham quan trực tuyến.

Việc tạo lập dữ liệu nhận được sự hỗ trợ của các cơ quan, đơn vị, nhưng khâu lưu trữ và phát huy giá trị nguồn tư liệu vẫn là khó khăn đối với bảo tàng. Đơn vị đang xây dựng đề án vị trí việc làm, trong đó tính đến nhân sự ứng dụng công nghệ thông tin.

Hiện bảo tàng chưa có người chuyên trách lĩnh vực này, trong khi dữ liệu sau số hóa cần được quản lý, cập nhật và tổ chức thành nội dung phục vụ người xem.

ttxvn_di-san-so-2.jpg
Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn thực hiện quét và số hóa hơn 1.000 hiện vật để trình chiếu trên công nghệ Hologram. (Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN)

Trường hợp của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ cho thấy số lượng hiện vật được số hóa mới phản ánh một phần kết quả. Một hiện vật chỉ thực sự hiện diện trước công chúng trên môi trường số khi hình ảnh, thông tin và câu chuyện của nó có thể được tìm thấy, tìm hiểu một cách thuận tiện. Để làm được điều đó, các bảo tàng cần cả hạ tầng lưu trữ, phương thức giới thiệu và đội ngũ vận hành lâu dài.

Ở cấp cơ sở, khó khăn xuất hiện ngay từ bước khởi đầu. Bà Đỗ Thị Ánh Tuyết, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường Tân Định cho biết địa phương dự kiến số hóa công trình kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia chùa Ngọc Hoàng theo lộ trình, sau đó triển khai đối với ba di tích cấp Thành phố.

Phường đã xác định số hóa di sản, dữ liệu văn hóa là một phần trong định hướng xây dựng “phường Tân Định số, khu phố số.” Tuy nhiên, địa phương còn lúng túng về cách bắt đầu, trình tự thực hiện, phạm vi và thông số kỹ thuật.

Phường đã đề nghị Sở Văn hóa và Thể thao hướng dẫn cụ thể phương pháp số hóa đối với di tích kiến trúc nghệ thuật cũng như các hạng mục không gian, hiện vật, tư liệu và hồ sơ. Quy trình thống nhất sẽ giúp địa phương tạo lập dữ liệu đúng từ đầu, phục vụ quản lý và thuận lợi hơn khi kết nối với hệ thống chung.

Nhu cầu ấy không chỉ liên quan đến việc lựa chọn thiết bị hay phần mềm. Dữ liệu của một di tích cần ghi nhận được nguồn gốc, đặc điểm, hiện trạng và những thay đổi qua thời gian.

Các thông tin phải có cấu trúc để người quản lý tiếp tục cập nhật, người nghiên cứu có thể sử dụng và công chúng được tiếp cận nội dung phù hợp. Nếu mỗi đơn vị tạo lập dữ liệu theo một cách riêng, việc chia sẻ và khai thác lâu dài sẽ gặp trở ngại.

ttxvn_di-san-so-1.jpg
Các bảo tàng đã triển khai hàng loạt giải pháp công nghệ tích cực như số hóa 3D và trải nghiệm thực tế ảo (VR) để phục vụ công chúng. (Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN)

Định hướng xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung cho lĩnh vực di sản vì thế có ý nghĩa quan trọng. Theo Tiến sỹ Phạm Thị Khánh Ngân, Chánh Văn phòng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), hệ thống hướng tới kết nối thông tin của năm lĩnh vực: di tích, bảo tàng, hiện vật, di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu.

Nguồn dữ liệu có thể kế thừa hồ sơ hiện có, bổ sung kết quả kiểm kê, xếp hạng, ghi danh cùng bản vẽ, hình ảnh, phim tài liệu và mô hình 3D. Trên nền tảng đó, thông tin di sản có thể phục vụ quản lý, nghiên cứu, giáo dục và từng bước hình thành các hình thức giới thiệu trực tuyến cho công chúng.

Trải nghiệm mới từ dữ liệu đáng tin cậy

Tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, dữ liệu số được ứng dụng vào cả quản lý hiện vật và phục vụ khách tham quan. Ông Lâm Ngô Hoàng Anh, Phó Giám đốc điều hành bảo tàng, cho biết đơn vị đã quản lý số toàn bộ hồ sơ hiện vật, chuẩn hóa 130 trang thuật từ phục vụ mô tả, phân loại và tra cứu.

Bảo tàng cũng vận hành hai hệ thống cổng kiểm soát vé tự động và hệ thống thuyết minh âm thanh có 119 điểm nội dung bằng 10 ngôn ngữ. Bên cạnh đó, Bảo tàng sử dụng công nghệ quét 3D hiện vật, trưng bày trực tuyến và trình chiếu để mở rộng cách tiếp cận chứng tích lịch sử.

Người xem có thể chủ động tìm hiểu nội dung theo nhu cầu, quan sát thêm những chi tiết khó nhìn rõ trong điều kiện trưng bày thông thường. Không gian trực tuyến cũng tạo thêm cơ hội tiếp cận cho những người chưa thể đến bảo tàng.

ttxvn_di-san-so-4.jpg
Du khách trải nghiệm công nghệ thực tế ảo (VR) tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. (Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN)

Hiện vật phải giữ vai trò trung tâm trong các trải nghiệm ấy. Công nghệ cần giúp công chúng hiểu sâu hơn câu chuyện lịch sử, cảm nhận thông điệp hòa bình và tôn trọng tính chân thực của chứng tích. Vì vậy, hiệu quả chuyển đổi số cần được đánh giá qua mức độ tương tác, thời gian tìm hiểu và sự hài lòng của người xem, thay vì chỉ tính số lượng thiết bị được lắp đặt.

Từ lĩnh vực sơn mài, Tiến sỹ Ngô Hồ Anh Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Nam Cần Thơ, đề xuất quá trình gồm tạo lập tư liệu số, phát triển trải nghiệm số và khai thác dữ liệu phục vụ sáng tạo.

Việc chụp, quét hiện vật từ nhiều góc độ, ghi nhận cấu trúc bề mặt và đặc điểm chất liệu có thể hình thành nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu, bảo tồn mà hạn chế tác động lên hiện vật gốc. Từ nguồn tư liệu đó, có thể xây dựng phòng tranh trực tuyến hoặc mô hình hiện vật 3D để người xem xoay, phóng to và tìm hiểu thông tin.

Các hình thức tương tác cũng có thể giới thiệu quy trình làm sơn mài, giúp người xem nhận biết kỹ thuật và công sức của nghệ nhân phía sau tác phẩm. Những hướng ứng dụng này cho thấy dữ liệu số có thể phục vụ nhiều mục đích, với điều kiện thông tin về hiện vật và chất liệu được ghi nhận chính xác.

Ông Christopher Bryson, đại diện Công ty Infinite Muse đề cập khả năng kết hợp dữ liệu di sản với công nghệ nhập vai và trí tuệ nhân tạo. Mô hình 3D và không gian tương tác giúp công chúng khám phá hiện vật, địa điểm theo nhiều góc nhìn; AI có thể hỗ trợ tìm kiếm tư liệu, chuẩn bị nội dung và trả lời câu hỏi dựa trên thông tin đã được đơn vị chuyên môn tuyển chọn, kiểm chứng.

Trải nghiệm càng sống động càng cần làm rõ cơ sở hình thành nội dung. Người xem phải phân biệt được tư liệu ghi nhận từ hiện vật với phần diễn giải hoặc tái dựng bằng công nghệ. Nguồn thông tin, quyền sử dụng và những điểm còn chưa chắc chắn cần được thể hiện minh bạch. Vai trò kiểm tra, quyết định của chuyên gia bảo tàng và bảo tồn là điều kiện để mở rộng trải nghiệm mà vẫn giữ được bối cảnh lịch sử, văn hóa của di sản.

Từ góc độ quản lý, ông Nguyễn Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn nhận số hóa di sản là một phương thức bảo tồn mới, đòi hỏi bảo đảm chuẩn dữ liệu và chuẩn công nghệ. Dữ liệu cần có nguồn gốc hợp pháp, được tạo lập đúng từ đầu, đầy đủ, thống nhất và có khả năng dùng chung. Phương án triển khai tại mỗi bảo tàng, di tích cũng phải phù hợp với đặc điểm hiện vật, nguồn tài chính và nhân lực.

Con đường đưa di sản số đến với công chúng vì vậy bắt đầu từ việc tạo lập nguồn dữ liệu đáng tin cậy và tiếp tục qua các khâu lưu trữ, kết nối, diễn giải, vận hành. Khi những công việc ấy được thực hiện đồng bộ, bản số vừa hỗ trợ bảo vệ hiện vật gốc, vừa giúp người xem tiếp cận sâu hơn với giá trị mà hiện vật lưu giữ./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Khu di tích tháp Pô Sah Inư. (Ảnh: Hồng Hiếu/TTXVN)

Lâm Đồng giới thiệu sắc màu di sản văn hóa Chăm

Thông qua triển lãm “Sắc màu Di sản văn hóa Chăm” Lâm Đồng sẽ nâng cao nhận thức của người dân về giá trị di sản, khuyến khích gìn giữ, trao truyền các phong tục, lễ hội, nghề thủ công truyền thống.

Đồng bào Co, tỉnh Quảng Ngãi luôn chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của dân tộc như: chiêng, nghệ thuật đấu chiêng. (Ảnh: Đinh Hương/TTXVN)

Quảng Ngãi lan tỏa giá trị văn hóa từ cộng đồng

Quảng Ngãi định hướng hình thành tuyến du lịch trải nghiệm gắn với không gian di sản, làng nghề, văn hóa địa phương; phát huy lễ hội truyền thống phù hợp với phong tục, tập quán của từng cộng đồng.