Đưa công nghệ Israel vào nông nghiệp Việt: Từ chuyển giao đến đồng phát triển

Israel với kinh nghiệm phát triển nông nghiệp trong điều kiện khắc nghiệt có nhiều công nghệ và mô hình có thể được Việt Nam tham khảo, thích ứng và cùng phát triển.
Ngài Ofer Fohrer - Trưởng Bộ phận Xúc tiến Đầu tư và Xuất khẩu, Cục Ngoại thương - Bộ Kinh tế và Công nghiệp Israel. (Ảnh: Thanh Bình/TTXVN)

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đặt ra ngày càng nhiều thách thức đối với sản xuất nông nghiệp, Israel với kinh nghiệm phát triển nông nghiệp trong điều kiện khắc nghiệt có nhiều công nghệ và mô hình có thể được Việt Nam tham khảo, thích ứng và cùng phát triển.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Tel Aviv về tiềm năng và định hướng hợp tác nông nghiệp công nghệ cao giữa hai nước, ông Ofer Fohrer, Trưởng Bộ phận Xúc tiến Đầu tư và Xuất khẩu thuộc Cục Ngoại thương, Bộ Kinh tế và Công nghiệp Israel, cho biết câu chuyện đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp của Israel phần lớn bắt nguồn từ nhu cầu thực tế.

Nguồn nước hạn chế, khí hậu khô hạn, điều kiện canh tác khắc nghiệt và quỹ đất nông nghiệp tương đối ít buộc Israel phải tìm cách sản xuất nhiều hơn với nguồn lực ít hơn.

Vì vậy, nhiều công nghệ nông nghiệp của Israel đã được phát triển, thử nghiệm và hoàn thiện trong nhiều thập kỷ dưới những điều kiện thiếu nước, nắng nóng và áp lực khí hậu khắc nghiệt.

Theo ông Ofer Fohrer, kinh nghiệm này ngày càng trở nên phù hợp trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tạo ra những thách thức tương tự tại nhiều khu vực nông nghiệp trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Nhiệt độ gia tăng, thay đổi mô hình lượng mưa, hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang tác động trực tiếp đến cách Việt Nam xây dựng khả năng chống chịu của ngành nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực.

Đối với Việt Nam, ông nhận thấy có một số lĩnh vực đặc biệt giàu tiềm năng.
Thứ nhất là tưới tiêu thông minh, tưới kết hợp bón phân và quản lý nguồn nước.

Việt Nam không phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước trên phạm vi cả nước như Israel, nhưng nhiều vùng nông nghiệp đang ngày càng chịu tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, lượng mưa thất thường, lũ lụt và áp lực gia tăng đối với nguồn nước.

Do đó, kinh nghiệm của Israel không chỉ giúp tiết kiệm nước mà còn góp phần quản lý nước và các đầu vào nông nghiệp chính xác hơn, qua đó tăng khả năng chống chịu của ngành nông nghiệp trước biến đổi khí hậu.

Thứ hai là nông nghiệp chính xác và nông nghiệp dựa trên dữ liệu, bao gồm cảm biến, giám sát từ xa, các hệ thống hỗ trợ ra quyết định dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI), tưới tiêu tự động, công nghệ vệ tinh và máy bay không người lái, cũng như các giải pháp phát hiện sớm sâu bệnh và tình trạng stress của cây trồng.

Những công nghệ này có thể giúp nông dân tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực đầu vào, nâng cao năng suất và tính ổn định của sản xuất, đồng thời giảm những chi phí không cần thiết.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp trong nhà kính và môi trường được kiểm soát, công nghệ chăn nuôi và sản xuất sữa, nuôi trồng thủy sản, các giải pháp sau thu hoạch, công nghệ sinh học nông nghiệp và những công nghệ giúp giảm thất thoát, lãng phí thực phẩm.

Tuy nhiên, ông Ofer Fohrer cho rằng một trong những bài học quan trọng nhất mà Israel có thể chia sẻ không nằm ở một công nghệ cụ thể, mà ở mô hình phát triển.

Đổi mới sáng tạo thành công trong nông nghiệp đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà cung cấp công nghệ, nông dân, nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý, các đối tác tài chính và thị trường.

Một ví dụ điển hình là hợp tác giữa TradeIL Vietnam với Quỹ Thiện Tâm của Tập đoàn Vingroup nhằm đưa các công nghệ nông nghiệp của Israel vào một số địa phương của Việt Nam.

Sáng kiến này tập hợp Quỹ Thiện Tâm, các bên liên quan tại địa phương và nông dân, các doanh nghiệp công nghệ Israel cùng văn phòng TradeIL, với các dự án được xây dựng dựa trên những nhu cầu cụ thể của từng địa phương.

Một ví dụ cụ thể khác là mô hình trình diễn trồng dưa chuột hữu cơ mới được giới thiệu tại Hà Nội, trong đó các công nghệ và bí quyết canh tác của Israel được triển khai trong điều kiện sản xuất thực tế tại Việt Nam.

Ông Fohrer cho rằng ý nghĩa của dự án không chỉ nằm ở riêng loại cây trồng này. Mô hình cho phép các bên đánh giá hiệu quả ngay tại địa phương, xác định những điều chỉnh cần thiết, tạo niềm tin cho nông dân và xây dựng cơ sở thực tiễn trước khi tiến tới triển khai trên quy mô thương mại rộng hơn.

Ông nhấn mạnh điều này đặc biệt quan trọng bởi Việt Nam là một thị trường nông nghiệp có sự đa dạng rất lớn. Điều kiện tại đồng bằng sông Cửu Long khác biệt đáng kể so với Tây Nguyên hay miền Bắc.

Quy mô trang trại, cây trồng, đất đai, khí hậu, cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận nguồn vốn và mức độ sẵn sàng về công nghệ cũng rất khác nhau.

Do đó, công nghệ có thể cần được điều chỉnh về quy mô, giá thành, phần cứng, yêu cầu bảo trì cũng như mô hình kinh doanh.

Một giải pháp dù có hiệu quả về mặt kỹ thuật nhưng không chứng minh được lợi tức đầu tư rõ ràng cho nông dân Việt Nam sẽ khó được áp dụng rộng rãi.

Theo ông Ofer Fohrer, mục tiêu cuối cùng nên là đồng phát triển, thay vì chỉ đơn thuần chuyển giao công nghệ.

Ông nhận định: “Israel có thế mạnh về công nghệ, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng như kinh nghiệm giải quyết những thách thức nông nghiệp phức tạp. Trong khi đó, Việt Nam có quy mô thị trường, sự đa dạng về nông nghiệp, kinh nghiệm bản địa, năng lực sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường Đông Nam Á rộng lớn. Giá trị lớn nhất sẽ được tạo ra khi những thế mạnh này được kết hợp với nhau.”

Đánh giá về những cơ hội triển vọng nhất cho hợp tác Việt Nam-Israel trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao trong 5-10 năm tới, ông Ofer Fohrer cho rằng cơ hội lớn nhất là đưa hợp tác nông nghiệp Việt Nam-Israel từ thương mại công nghệ sang đổi mới sáng tạo, thích ứng và thương mại hóa công nghệ cùng nhau.

raelNgài Ofer Fohrer - Trưởng Bộ phận Xúc tiến Đầu tư và Xuất khẩu, Cục Ngoại thương - Bộ Kinh tế và Công nghiệp Israel. (Ảnh: TTXVN phát)

Theo ông Fohrer, biến đổi khí hậu sẽ ngày càng định hình các hoạt động đầu tư trong nông nghiệp. Những công nghệ liên quan đến sử dụng nước hiệu quả và xử lý nước, quản lý xâm nhập mặn, phát triển nông nghiệp thích ứng với khí hậu, canh tác chính xác, sản xuất trong môi trường được kiểm soát, bảo vệ cây trồng bằng các giải pháp sinh học và chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản sử dụng hiệu quả nguồn lực sẽ ngày càng trở nên quan trọng.

Nông nghiệp số cũng sẽ là một lĩnh vực lớn. AI, cảm biến, thị giác máy tính, robot, dữ liệu vệ tinh và các nền tảng quản lý trang trại đang nhanh chóng thay đổi cách thức ra quyết định trong nông nghiệp.

Ông Fohrer đánh giá Việt Nam là môi trường đặc biệt thuận lợi cho sự hợp tác này bởi Việt Nam vừa có một ngành nông nghiệp quy mô lớn, vừa có sự đa dạng đáng kể giữa các vùng miền, năng lực công nghệ ngày càng phát triển và sự quan tâm ngày càng lớn đến nâng cao năng suất, phát triển bền vững và sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Ông Fohrer cũng gợi ý hướng đi xa hơn, trong đó Việt Nam có thể trở thành một nền tảng quan trọng để các công nghệ nông nghiệp Israel tiếp cận thị trường Đông Nam Á, trong khi các doanh nghiệp Việt Nam có thể chuyển từ vai trò khách hàng và nhà phân phối sang trở thành đối tác sản xuất, nhà đầu tư và đồng phát triển các công nghệ phù hợp với nền nông nghiệp nhiệt đới.

Ông khẳng định Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Israel (VIFTA) tạo ra một khuôn khổ quan trọng cho giai đoạn hợp tác tiếp theo.

Tuy nhiên, một hiệp định thương mại tự do chỉ tạo ra cơ hội; để biến những cơ hội đó thành kết quả thực tế cần có các hoạt động phát triển thị trường chủ động. Trong thời gian tới, ông cho rằng có 4 ưu tiên thực tiễn.

Thứ nhất, chính phủ hai nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và hợp tác thương mại bằng cách giảm các rào cản pháp lý, hỗ trợ các dự án thí điểm và hợp tác R&D, thúc đẩy đối thoại giữa các cơ quan liên quan và giúp giảm thiểu rủi ro khi đưa công nghệ mới vào ứng dụng.

Thứ hai, cần tăng cường kết nối giữa nghiên cứu và thị trường. Các trường đại học và viện nghiên cứu của Israel và Việt Nam nên phối hợp triển khai những dự án ứng dụng nhằm giải quyết các vấn đề do nông dân và doanh nghiệp xác định, đồng thời tính đến khả năng thương mại hóa ngay từ đầu.

Thứ ba, cần phát triển thêm các trang trại trình diễn và mô hình “phòng thí nghiệm sống” tại nhiều địa phương của Việt Nam. Những dự án này có thể tập trung vào các thách thức cụ thể của từng vùng, chẳng hạn quản lý nước và xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng diện tích canh tác các loại cây có giá trị cao tại Tây Nguyên, hoặc cải thiện cơ sở hạ tầng trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.

Các dự án cần tạo ra những bằng chứng thương mại có thể đo lường được, không chỉ chứng minh công nghệ hoạt động, mà còn cho thấy tác động của công nghệ đối với năng suất, chi phí đầu vào, chất lượng sản phẩm và lợi nhuận.

Thứ tư, vấn đề tài chính cần trở thành một phần của mô hình hợp tác. Một trong những rào cản lớn đối với việc ứng dụng công nghệ nông nghiệp thường là khoản đầu tư ban đầu.

Các quỹ, ngân hàng, doanh nghiệp nông nghiệp, nhà đầu tư và nhà cung cấp công nghệ có thể cùng xây dựng các cơ chế đồng tài trợ, cho thuê, thanh toán theo mức độ sử dụng và các mô hình tài chính khác để giúp nhiều nông dân tiếp cận công nghệ hơn.

Cuối cùng, hai nước phải tiếp tục đầu tư vào con người và các mối quan hệ hợp tác lâu dài. Israel và Việt Nam đã có lịch sử hợp tác và trao đổi kiến thức, đào tạo trong lĩnh vực nông nghiệp.

Giai đoạn tiếp theo cần mở rộng sang các lĩnh vực như khởi nghiệp, thương mại hóa, quản lý công nghệ, R&D chung và phát triển năng lực kỹ thuật tại địa phương.

Ông Fohrer chia sẻ: “Theo tôi, thành công sau 10 năm không nên chỉ được đo bằng số lượng công nghệ Israel được bán tại Việt Nam. Thành công thực sự sẽ là khi chúng ta thấy những công nghệ được thử nghiệm tại Việt Nam, được điều chỉnh cùng các đối tác Việt Nam, được hỗ trợ tại chỗ, mở rộng trên quy mô thương mại và thậm chí được tiếp tục phát triển hoặc sản xuất tại Việt Nam để phục vụ các thị trường Đông Nam Á khác.”

Ông cho rằng Cục Ngoại thương và TradeIL Vietnam có thể đóng vai trò cầu nối trong toàn bộ quá trình này, từ xác định cơ hội, giới thiệu các giải pháp đổi mới của Israel đến xây dựng quan hệ đối tác và hỗ trợ các quan hệ này phát triển theo thời gian.

Ông nhấn mạnh bước tiếp theo là biến những dự án thành công riêng lẻ thành một mô hình rộng hơn về đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp Việt Nam-Israel, vừa thúc đẩy xuất khẩu công nghệ của Israel, vừa tạo ra giá trị bền vững, lâu dài cho cả hai nền kinh tế./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục