Dệt may Việt Nam chuyển đổi xanh để giữ nhịp xuất khẩu, nâng giá trị

Dệt may Việt Nam chủ động chuyển đổi xanh, đổi mới công nghệ và nâng cấp chuỗi cung ứng để đáp ứng tiêu chuẩn mới, giữ đơn hàng và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu để phát triển bền vững.

Dệt may xếp ở vị trí thứ 2 các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Nga. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)
Dệt may xếp ở vị trí thứ 2 các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Nga. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

Dệt may tiếp tục là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm và đóng góp lớn vào việc làm, thu nhập của người lao động.

Tuy nhiên, trong bối cảnh các thương hiệu toàn cầu ngày càng yêu cầu cao về phát triển bền vững, trách nhiệm xã hội, năng lượng sạch và khả năng truy xuất nguồn gốc, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may không còn chỉ nằm ở giá và năng lực sản xuất.

Chuyển đổi xanh, đổi mới công nghệ, phát triển nguyên liệu bền vững và nâng cấp chuỗi cung ứng đang trở thành những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam giữ đơn hàng và tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Xanh hóa trở thành điều kiện cạnh tranh

Theo Bộ Công Thương, năm 2025, xuất khẩu dệt may mang về 46 tỷ USD; ngành đặt mục tiêu đạt 48 tỷ USD trong năm 2026. Tính đến tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng 26,9 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.

Kết quả này cho thấy ngành vẫn duy trì được sức cạnh tranh, song cũng đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chi phí sản xuất, chính sách thương mại và những tiêu chuẩn mới về xanh hóa, phát thải và tuần hoàn.

Thị trường dệt may toàn cầu đang có sự chuyển dịch rõ rệt trong cách lựa chọn nhà cung ứng. Ông Alen Wei, Giám đốc Tài chính H&M Production Trung Quốc và Đông Nam Á cho biết, các thương hiệu thời trang hiện không chỉ tìm kiếm chuỗi cung ứng có năng lực thương mại mà còn yêu cầu khả năng phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo, khả năng chống chịu và tạo ra giá trị lâu dài.

Với H&M, sản phẩm vẫn là trung tâm của các quyết định kinh doanh, nhưng năng lực cạnh tranh được nhìn nhận trên sự kết hợp giữa thời trang, chất lượng, giá cả và tính bền vững. Các nhà cung cấp đồng thời phải không ngừng nâng cao hiệu suất, năng suất và đổi mới sáng tạo.

Nếu trước đây năng lực sản xuất, giá thành và thời gian giao hàng là những yếu tố quyết định, thì hiện nay doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu về nguyên liệu, môi trường, năng lượng, hóa chất, điều kiện lao động và trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, yêu cầu giảm phát thải đang tác động trực tiếp tới ngành dệt may – một ngành sử dụng nhiều năng lượng và nguyên liệu.

ttxvn-chuyen-doi-xanh-yeu-cau-cap-thiet-cua-doanh-nghiep-xuat-khau-sang-eu-resize-7269.jpg
Xanh hóa trở thành điều kiện cạnh tranh của ngành dệt may. (Ảnh: TTXVN)

Theo nghiên cứu từ doanh nghiệp, toàn ngành thời trang sản xuất hơn 100 tỷ sản phẩm may mặc mỗi năm; trong đó hơn 60% sử dụng sợi polyester, đồng thời phát sinh khoảng 92 triệu tấn rác thải dệt may mỗi năm. Vì vậy, thúc đẩy vật liệu tái chế, kéo dài vòng đời sản phẩm và xây dựng mô hình tuần hoàn đang trở thành xu hướng ngày càng rõ nét.

Trong chuỗi cung ứng toàn cầu của H&M, Việt Nam đang giữ vị trí quan trọng. Tập đoàn đã thu mua hàng hóa từ Việt Nam hơn hai thập kỷ, hiện hợp tác với hơn 40 nhà cung cấp, vận hành hơn 70 nhà máy trên cả nước, tạo việc làm cho hơn 60.000 lao động.

Đây là cơ sở để Việt Nam tiếp tục duy trì vai trò trong chuỗi cung ứng của các thương hiệu quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải nhanh chóng thích ứng với các tiêu chuẩn mới.

Theo ông Alen Wei, không chỉ có H&M mà nhiều thương hiệu thời trang khác đều đang hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 trên toàn chuỗi giá trị, đồng thời thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế. Theo đó, sản phẩm không chỉ cần bền, đẹp, an toàn, thân thiện với người sử dụng mà còn phải hạn chế tác động đến môi trường, không chứa hóa chất độc hại và hướng tới một vòng đời sử dụng dài hơn.

Tại chuỗi sự kiện Kết nối chuỗi cung ứng hàng hoá quốc tế (Viet Nam International Sourcing 2026) do Bộ Công Thương tổ chức, đang diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, các nhà mua hàng dệt may quốc tế nhận định, Việt Nam đã xây dựng được vị thế là một trong những trung tâm sản xuất dệt may quan trọng của thế giới nhờ năng lực sản xuất, lực lượng lao động, mức độ hội nhập và khả năng thích ứng.

Giai đoạn phát triển tiếp theo đòi hỏi ngành phải chuyển dịch mạnh mẽ từ trung tâm sản xuất trở thành điểm đến của dệt may xanh, công nghệ cao, tuần hoàn và có giá trị gia tăng lớn.

Bên cạnh yêu cầu về môi trường, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam còn chịu tác động từ những thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế.

Ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết, chính sách thuế mà Hoa Kỳ áp dụng đối với nhiều nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu, từ đó có thể làm giảm khả năng cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu Việt Nam.

Tuy vậy, các nhà cung ứng và phân phối lớn của Hoa Kỳ hiện vẫn chưa có kế hoạch thay đổi các nhà thu mua; Việt Nam tiếp tục được xem là một trong những đối tác chiến lược của các tập đoàn lớn; trong đó có các lĩnh vực dệt may, da giày và nhiều ngành hàng sử dụng nhiều lao động.

Theo ông Đỗ Ngọc Hưng, đây là tín hiệu tích cực, song cũng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải củng cố lợi thế của hàng Việt Nam bằng những yếu tố vượt ra ngoài giá thành. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực sản xuất, tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu và công nghệ trong nước, qua đó tạo giá trị gia tăng lớn hơn, đồng thời hạn chế nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại hoặc bị cáo buộc sử dụng nguyên liệu không minh bạch từ nước thứ ba.

Chuyển đổi đồng bộ chuỗi cung ứng

Trước sự thay đổi của thị trường, nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã chủ động chuyển hướng, coi xanh hóa và đổi mới sáng tạo là một phần của chiến lược kinh doanh thay vì chỉ là yêu cầu để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.

Bà Nguyễn Thị Hồng Trang, Phó Trưởng phòng Phòng Nghiên cứu phát triển và đầu tư, Tổng Công ty 28 cho biết, doanh nghiệp hiện tổ chức sản xuất theo chuỗi khép kín từ kéo sợi, dệt vải, nhuộm hoàn tất đến may thành phẩm và phân phối trực tiếp ra thị trường.

ttxvn-phu-tho-uu-tien-phat-trien-nhieu-linh-vuc-cong-nghiep-ho-tro.jpg
Dây chuyền sản xuất quần áo tại Công ty TNHH YI DA Việt Nam, khu công nghiệp Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Năng lực sản xuất hiện đạt khoảng 2.500 tấn sợi, 3 triệu mét vải loang và 18 triệu mét vải nhuộm mỗi năm. Sản phẩm dệt may của Tổng Công ty 28 đã xuất khẩu đến nhiều thị trường như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,…với kim ngạch xuất khẩu mỗi năm đạt 90-100 triệu USD.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Trang, thời gian gần đây, khách hàng quốc tế ngày càng quan tâm và ưu tiên các sản phẩm xanh, bền vững từ nguyên liệu, năng lượng đến môi trường làm việc của lao động.

Trước yêu cầu đó, doanh nghiệp đã chủ động nâng cấp năng lực sản xuất và từng bước chuyển đổi theo hướng xanh hóa. Cùng với đầu tư trang thiết bị hiện đại, doanh nghiệp tập trung cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng tự động hóa nhiều công đoạn từ thiết kế, trải vải, cắt, may đến hoàn tất sản phẩm nhằm nâng cao năng suất, sử dụng hiệu quả nguyên phụ liệu.

Chiến lược này không chỉ nhằm đáp ứng các yêu cầu về môi trường của người mua hàng hiện tại mà còn là bước chuẩn bị để nâng cao sức cạnh tranh trong dài hạn, hướng tới mục tiêu tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu.

Trong khi đó, Công ty Faslink Việt Nam lựa chọn tập trung nghiên cứu nguyên liệu mới, tái chế và ứng dụng công nghệ. Bà Trần Hoàng Phú Xuân, Giám đốc Công ty Faslink Việt Nam cho biết, quá trình phát triển của Faslink Việt Nam gắn liền với việc dịch chuyển từ sản xuất sản phẩm đơn thuần sang cung cấp giải pháp cho nhà mua hàng.

Ưu tiên cho nguyên liệu thân thiện với môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng, Faslink Việt Nam liên tục cho ra mắt các dòng vải có nguồn gốc tự nhiên như vải sợi tre, vải sợi sen, vải cafe, vải bạc hà…

Song song với chất liệu doanh nghiệp cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ 3D vào sản xuất, giúp rút ngắn thời gian phát triển mẫu, đồng thời giảm lãng phí nguyên phụ liệu là những yếu tố ngày càng được nhà mua hàng quan tâm.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng sử dụng phân tích dữ liệu lớn để dự báo xu hướng và triển khai giải pháp tuần hoàn, tái chế quần áo cũ thành quần áo mới.

Theo bà Trần Hoàng Phú Xuân, thông qua hợp tác ứng dụng giải pháp tái chế, doanh nghiệp có thể cắt giảm khoảng 59% lượng khí thải CO2 và 47% lượng nước tiêu thụ so với quy trình sản xuất thông thường.

ttxvn-1012-xuat-khau-det-may.jpg
Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Đây chính là lợi thế vượt trội giúp Faslink Việt Nam trở thành đối tác cung cấp nguyên liệu và giải pháp sản xuất cho hơn 60 thương hiệu thời trang và là cung ứng đồng phục cho hơn 500 doanh nghiệp tại Việt Nam.

Chuyển đổi chuỗi sản xuất không chỉ là câu chuyện về môi trường hay giá trị tăng thêm mà ngày càng gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh và khả năng giữ đơn hàng của ngành dệt may.

Trong bối cảnh các thương hiệu quốc tế ngày càng tìm kiếm những nhà cung cấp có khả năng kết hợp giữa giá cả, chất lượng, tốc độ, đổi mới và phát triển bền vững, cơ hội của dệt may Việt Nam vẫn còn lớn.

Nhưng để biến cơ hội thành tăng trưởng thực chất, doanh nghiệp không thể chỉ sản xuất nhiều hơn mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn trong mỗi sản phẩm và trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Các chuyên gia khuyến nghị, ngành dệt may Việt Nam cần ưu tiên chuyển từ gia công đơn thuần sang các khâu có giá trị gia tăng cao hơn, tăng năng lực thiết kế, phát triển sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng và chủ động nguyên liệu.

Cùng với đó là đầu tư cho kỹ năng lao động, công nghệ số, tự động hóa, dự báo xu hướng và quản trị dữ liệu để nâng cao năng suất. Đây cũng là hướng đi để doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt của nhà mua hàng mà còn duy trì vị thế trong những chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc theo hướng bền vững, linh hoạt và phát thải thấp./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 năm 2026

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 năm 2026

So với tháng 7/2026, CPI tháng 8/2026 tăng 0,47%; trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%.