Quảng Ninh: Từ lợi thế hạ tầng đến trung tâm logistics của vùng Đông Bắc

Việc hội tụ các loại hình giao thông đường bộ, đường biển, đường sắt và hàng không là lợi thế hiếm có, tạo cơ sở để Quảng Ninh hướng tới một trung tâm logistics có quy mô khu vực và quốc tế.

Cảng CICT Cái Lân. (Ảnh: Thanh Vân/TTXVN)
Cảng CICT Cái Lân. (Ảnh: Thanh Vân/TTXVN)

Quảng Ninh đang đứng trước một cơ hội phát triển mới khi những lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng giao thông và không gian kinh tế ngày càng được kết nối thành một chỉnh thể.

Từ cao tốc, cảng biển, cửa khẩu đến sân bay và các khu kinh tế, một mạng lưới giao thông đa phương thức đang dần hình thành, đưa logistics từ vai trò dịch vụ hỗ trợ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh.

Không chỉ có vị trí đặc biệt trong vùng Đông Bắc, Quảng Ninh còn sở hữu điều kiện hiếm có khi vừa có biên giới trên đất liền, vừa có biên giới trên biển với Trung Quốc. Tỉnh nằm trên hai hành lang kinh tế Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh và Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, đồng thời giữ vị trí quan trọng trong vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ.

Những lợi thế đó giúp Quảng Ninh có khả năng kết nối trực tiếp với Trung Quốc, Đông Bắc Á, ASEAN và các trung tâm sản xuất, thương mại lớn của miền Bắc. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang có những thay đổi sâu sắc, việc hàng hóa có thể nhanh chóng di chuyển giữa khu vực sản xuất, cửa khẩu, cảng biển và thị trường tiêu thụ đang trở thành lợi thế cạnh tranh ngày càng quan trọng.

ttxvn-quang-ninh-doi-moi-sang-tao-tro-thanh-mot-trung-tam-phat-trien-hien-dai-cua-phia-bac-8935851.jpg
Đường dẫn từ cao tốc Hạ Long-Hải Phòng xuống nút giao được gắn biển chỉ dẫn. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

Khi hạ tầng trở thành lợi thế cạnh tranh

Nếu trước đây nhắc đến Quảng Ninh, người ta thường nghĩ đến than, vịnh Hạ Long hay cửa khẩu Móng Cái, thì diện mạo kinh tế của tỉnh hôm nay đã có thêm một dấu ấn mới: một địa bàn trung chuyển và kết nối hàng hóa của khu vực.

Sự thay đổi ấy trước hết đến từ hạ tầng. Với quan điểm “hạ tầng đi trước, mở đường cho phát triển," Quảng Ninh nhiều năm qua dành nguồn lực lớn để đầu tư đồng bộ các loại hình giao thông. Đường bộ được mở rộng, cảng biển được nâng cấp, sân bay quốc tế được đầu tư, đường thủy nội địa được khai thác hiệu quả hơn và kết nối đường sắt từng bước được hoàn thiện.

Toàn tỉnh hiện có hơn 6.400 km đường bộ. Đáng chú ý, tuyến cao tốc Hải Phòng-Hạ Long-Vân Đồn-Móng Cái dài 176 km đã tạo nên một hành lang giao thông xuyên suốt từ Hải Phòng qua Hạ Long, Vân Đồn đến cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Tuyến đường không chỉ rút ngắn thời gian đi lại mà còn tạo điều kiện để hàng hóa từ Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc tiếp cận nhanh hơn với hệ thống cảng biển và cửa khẩu của Quảng Ninh.

Cùng với cao tốc, các tuyến đường tỉnh, cầu lớn và đường ven biển tiếp tục được đầu tư, góp phần mở rộng không gian phát triển và giảm thời gian, chi phí vận chuyển. Đây là những yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động logistics, bởi chỉ một mắt xích giao thông được rút ngắn cũng có thể tạo ra thay đổi đáng kể đối với toàn bộ chuỗi cung ứng.

Lợi thế của Quảng Ninh còn nằm ở hệ thống giao thông đường biển và đường thủy nội địa. Tỉnh hiện có 38 tuyến luồng đường thủy nội địa với tổng chiều dài hơn 864 km và 141 cảng, bến. Trong đó, nhiều cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn, tạo điều kiện để hàng hóa không chỉ lưu chuyển trong nước mà còn kết nối với các thị trường quốc tế.

Khi cảng biển được đặt trong mối liên kết với khu công nghiệp, cửa khẩu, đường cao tốc và các trung tâm phân phối, giá trị của hệ thống cảng không còn dừng ở hoạt động bốc xếp hay xuất nhập khẩu. Đó là nền tảng để hình thành một chuỗi logistics hoàn chỉnh, từ sản xuất, lưu kho, vận chuyển đến phân phối.

Ở một phương thức khác, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đang mở thêm cánh cửa kết nối cho Quảng Ninh. Theo quy hoạch đến năm 2050, sân bay được định hướng đạt công suất khoảng 20 triệu hành khách và 200.000 tấn hàng hóa mỗi năm, đồng thời phát triển đồng bộ các hạng mục phục vụ logistics hàng không, bảo dưỡng, sửa chữa và hạ tầng kỹ thuật.

Đây là điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh hướng tới nhóm hàng hóa có giá trị cao, yêu cầu thời gian giao nhận nhanh như điện tử, linh kiện, nông sản chất lượng cao và các sản phẩm công nghệ.

ttxvn-san-bay-van-don.jpg
Sân bay quốc tế Vân Đồn. (Ảnh: TTXVN phát)

Hướng tới một mạng lưới vận tải đa phương thức

Điểm đáng chú ý trong cách Quảng Ninh phát triển logistics là không đặt từng phương thức vận tải trong những “đường ray” riêng biệt. Mục tiêu lớn hơn là kết nối chúng thành một mạng lưới thống nhất.

Đường bộ đảm nhiệm khả năng cơ động và kết nối trực tiếp; cảng biển đảm nhận những dòng hàng lớn; hàng không phục vụ nhóm hàng có giá trị cao và yêu cầu tốc độ; đường thủy nội địa góp phần giảm áp lực cho đường bộ; còn đường sắt được kỳ vọng trở thành mắt xích quan trọng trong kết nối dài hạn với các trung tâm kinh tế trong nước và Trung Quốc.

Dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội-Quảng Ninh được khởi công trong tháng 4/2026, với chiều dài khoảng 120,2 km, đi qua Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh. Cùng với đó là định hướng thúc đẩy tuyến Móng Cái-Quảng Ninh-Hải Phòng, hướng tới kết nối đường sắt với Trung Quốc và các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc.

Nếu được triển khai đồng bộ, những tuyến kết nối này sẽ tạo thêm lựa chọn cho doanh nghiệp trong tổ chức vận tải, giảm sự phụ thuộc vào một phương thức duy nhất và nâng cao khả năng tối ưu chi phí. Quan trọng hơn, hàng hóa có thể được luân chuyển liền mạch hơn giữa các điểm sản xuất, trung tâm logistics, cảng biển, sân bay và cửa khẩu. Đó cũng chính là nền tảng để Quảng Ninh tiến gần hơn tới mô hình logistics hiện đại.

Logistics không còn chỉ là dịch vụ hỗ trợ

Sự thay đổi về hạ tầng đang kéo theo sự thay đổi trong tư duy phát triển. Logistics ngày nay không đơn thuần là vận chuyển một lô hàng từ điểm A đến điểm B. Đó là cả một chuỗi dịch vụ bao gồm vận tải, lưu kho, phân phối, thông quan, quản lý dữ liệu và tổ chức chuỗi cung ứng. Vì vậy, nơi nào có khả năng kết nối tốt, thời gian giao nhận ngắn và chi phí logistics cạnh tranh, nơi đó có lợi thế lớn trong thu hút đầu tư và phát triển sản xuất. Quảng Ninh đang định vị logistics theo hướng đó.

Ba khu vực Quảng Yên, Vân Đồn và Móng Cái được xác định là những cực phát triển quan trọng, gắn với những vai trò khác nhau trong chuỗi logistics của tỉnh.

Quảng Yên hướng tới trở thành cực công nghiệp và logistics; Vân Đồn phát triển dịch vụ tổng hợp, logistics và cửa ngõ giao thương quốc tế; trong khi Móng Cái tập trung phát triển khu hợp tác kinh tế qua biên giới và mô hình cửa khẩu thông minh.

Cách tổ chức này tạo ra sự phân công tương đối rõ nét, đồng thời mở khả năng liên kết giữa các khu vực. Hàng hóa có thể được sản xuất, tập kết, lưu kho, thông quan và đưa ra thị trường thông qua nhiều tuyến vận tải khác nhau, thay vì phụ thuộc vào một điểm hay một phương thức riêng lẻ.

Đến năm 2030, Quảng Ninh đặt mục tiêu hình thành thêm ít nhất 3 trung tâm logistics, nâng tỷ lệ lao động logistics qua đào tạo nghề, duy trì thặng dư cán cân thương mại và nâng khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ, đường thủy nội địa lên trên 164 triệu tấn, với khối lượng luân chuyển đạt trên 12,5 tỷ tấn.

Để đạt mục tiêu này, tỉnh đang hướng tới phát triển mạnh dịch vụ logistics trọn gói (3PL), nâng cao hiệu quả khai thác cảng biển, tăng cường kết nối cửa khẩu với hàng không và đường sắt, đồng thời đưa logistics gắn sâu hơn với hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu kinh tế.

ttxvn-quang-ninh-co-them-06-mat-hang-duoc-xuat-khau-qua-cap-cua-khau-mong-cai-viet-nam-dong-hung-trung-quoc-o-khu-vuc-cau-bac-luan-ii-7121558-1.jpg
Phương tiện chở hàng hóa thông quan qua cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam)- Đông Hưng (Trung Quốc) tại khu vực cầu Bắc Luân II. (Ảnh: Văn Đức/TTXVN)

Từ kết nối hạ tầng đến kết nối doanh nghiệp

Hạ tầng là điều kiện cần, nhưng để logistics thực sự trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, yếu tố quyết định vẫn là năng lực của doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ.

Quảng Ninh hiện có gần 2.400 doanh nghiệp logistics, bao gồm cả chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp ngoài tỉnh. Các doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong 17 loại hình dịch vụ logistics, với tổng vốn đăng ký khoảng 9.700 tỷ đồng. Năm 2025, khu vực này nộp ngân sách 1.605 tỷ đồng, chiếm 2,32% tổng thu ngân sách nhà nước nội địa. Toàn tỉnh có khoảng 32.000 người đang làm việc trong các doanh nghiệp liên quan đến dịch vụ logistics.

Những con số này cho thấy logistics đã trở thành một bộ phận đáng kể trong cơ cấu kinh tế địa phương. Tuy nhiên, dư địa phát triển vẫn còn rất lớn, nhất là khi nhu cầu về các dịch vụ logistics tích hợp ngày càng tăng.

Thay vì chỉ cung cấp từng dịch vụ riêng lẻ, doanh nghiệp logistics cần tiến tới khả năng tổ chức trọn gói chuỗi cung ứng, từ vận chuyển, lưu kho, khai báo hải quan đến phân phối. Khi làm được điều đó, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở một chuyến xe hay một container mà nằm trong khả năng quản trị toàn bộ dòng hàng hóa.

Quảng Ninh vì thế đang chú trọng xây dựng hệ sinh thái logistics có tính chuyên nghiệp và liên kết cao hơn, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong tỉnh tham gia sâu hơn vào mạng lưới logistics trong nước và quốc tế.

Một xu hướng khác đang định hình tương lai ngành logistics Quảng Ninh là chuyển đổi số.

Các công nghệ như IoT, 5G, nền tảng dữ liệu và hệ thống điều hành thông minh được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp theo dõi hàng hóa theo thời gian thực, tối ưu hành trình vận chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện và giảm chi phí.

Đặc biệt, việc phát triển cửa khẩu thông minh có thể tạo ra thay đổi đáng kể đối với hoạt động xuất nhập khẩu qua Móng Cái. Khi dữ liệu được liên thông và quy trình được số hóa, thời gian thông quan có thể được rút ngắn, khả năng dự báo và điều phối hàng hóa được nâng cao, qua đó giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong tổ chức chuỗi cung ứng.

Song hành với chuyển đổi số là yêu cầu về logistics xanh. Trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe về phát thải và môi trường, logistics không thể chỉ hướng đến tốc độ và chi phí. Doanh nghiệp cũng phải tính đến mức tiêu hao năng lượng, phát thải carbon và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Định hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả năng lượng vì vậy không chỉ mang ý nghĩa môi trường mà còn là bước chuẩn bị để Quảng Ninh tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Việc hội tụ các loại hình giao thông đường bộ, đường biển, đường sắt và hàng không là lợi thế hiếm có, tạo cơ sở để Quảng Ninh hướng tới một trung tâm logistics có quy mô khu vực và quốc tế.

Nếu tiếp tục kết nối tốt những lợi thế này, logistics sẽ không còn đứng bên ngoài quá trình phát triển kinh tế của Quảng Ninh. Ngược lại, chính dòng chảy hàng hóa, dữ liệu và dịch vụ sẽ mở thêm những không gian tăng trưởng mới, đưa Quảng Ninh từ một địa phương có lợi thế cửa ngõ trở thành một trung tâm kết nối quan trọng của vùng Đông Bắc và một điểm hội nhập ngày càng rõ nét của Việt Nam với khu vực và thế giới./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

(Ảnh: Nguyễn Huy Thành/TTXVN)

Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới hiện rõ, kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã, cơ chế theo dõi giữa Đắk Lắk và địa phương của Lào.