Khánh Hòa: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản thư tịch cổ của người Chăm

Thư tịch cổ của người Chăm - loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm đang dần bị mai một theo thời gian, rất cần được nghiên cứu, khảo nghiệm và bảo tồn để phát huy hiệu quả nguồn di sản này.
Thư tịch cổ của đồng bào Chăm. (Ảnh: Công Thử/TTXVN)

Thư tịch cổ của người Chăm là một bộ phận quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thư tịch không chỉ lưu giữ những tri thức về lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống xã hội của cộng đồng Chăm qua nhiều thế kỷ, mà còn phản ánh quá trình sáng tạo, tiếp biến văn hóa và khả năng lưu truyền tri thức độc đáo của đồng bào Chăm.

Tuy nhiên, thư tịch cổ cũng đang dần bị bào mòn theo thời gian, rất cần được nghiên cứu, khảo nghiệm và có giải pháp bảo tồn để phát huy hiệu quả nguồn di sản quý giá này.

Loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm

Thư tịch viết tay của người Chăm, đặc biệt là thư tịch viết trên chất liệu lá buông được xem là loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm, mang giá trị nổi bật cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện.

Từ lâu, thư tịch viết tay đã giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng của người Chăm.Ông Trượng Tính, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa cho biết các văn bản được ghi chép trên nhiều chất liệu khác nhau như giấy dó, giấy ximăng, vải và đặc biệt là lá buông.

Đây là những tư liệu được các thế hệ chức sắc, trí thức và nghệ nhân lưu giữ, trao truyền qua nhiều đời.

Đối với cộng đồng người Chăm theo tín ngưỡng Bàlamôn và Bàni, các bộ kinh sách không chỉ là tài liệu ghi chép mà còn là vật thiêng, gắn liền với các nghi lễ tôn giáo được tổ chức tại đền, tháp và trong cộng đồng.

Các chức sắc Chăm đạo Bàlamôn đọc Thư tịch cổ phục vụ tín ngưỡng tôn giáo. (Ảnh: TTXVN phát)

Mỗi vị Cả sư (Po Adhia) phụ trách các đền tháp đều quản lý và lưu giữ một bộ kinh lá buông phục vụ các nghi lễ quan trọng. Những bộ kinh này được bảo quản cẩn thận, chỉ sử dụng trong những dịp nhất định như lễ Yuer Yang, các nghi thức thánh tẩy đền tháp, đất đai, nhà cửa hoặc các nghi lễ tôn chức, tấn phong chức sắc.

Chính vì mang ý nghĩa thiêng liêng nên kinh sách lá buông không được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng mà chủ yếu lưu truyền trong nội bộ các gia đình chức sắc hoặc những người có trách nhiệm kế thừa nghi lễ tôn giáo.

Ông Thập Hồng Luyện (nhà nghiên cứu văn hóa Chăm ở tỉnh Khánh Hòa cho biết, nội dung ghi chép trong thư tịch cổ của người Chăm rất phong phú và giàu giá trị về văn hóa.

Bên cạnh những văn bản liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, còn có nhiều tư liệu phản ánh tri thức dân gian về thiên văn, lịch pháp, y học cổ truyền, triết học và văn chương.

Một số bộ kinh đề cập đến các nghi lễ như thánh tẩy đất đai, đền tháp và nhà cửa, triết lý tôn giáo, nghi lễ chặn nước đầu nguồn, tế thần lửa, cầu mưa, cầu đảo hay các nghi thức liên quan đến việc tôn chức và phong cấp cho các chức sắc.

Một trong những nét đặc sắc của thư tịch lá buông là hình thức thể hiện. Các văn bản được khắc trên lá buông đã qua xử lý, viết ở cả hai mặt bằng chữ Chăm cổ, đôi khi xen lẫn một số ký tự Sanskrit. Mỗi lá thường có từ hai đến năm dòng chữ.

Đối với cộng đồng Chăm Bàni, mặc dù chịu ảnh hưởng của Hồi giáo nhưng kinh sách vẫn được ghi chép bằng chữ Akhar Thrah truyền thống cùng với chữ Ả Rập. Điều này cho thấy sức sống bền bỉ của hệ thống chữ viết Chăm và khả năng bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng trong quá trình giao lưu, tiếp biến với các nền văn hóa khác.

Nguy cơ mai một

Mặc dù có giá trị to lớn, nhưng thực trạng bảo tồn thư tịch Chăm hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn. Phần lớn các thư tịch cổ có niên đại từ thế kỷ XVIII đến XIX, thậm chí có những văn bản tồn tại lâu đời hơn.

Trải qua thời gian dài, dưới tác động của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hơi muối từ biển, côn trùng và nấm mốc, nhiều thư tịch đã bị xuống cấp nghiêm trọng.

Các hiện tượng rách nát, mục hỏng, phai mờ chữ viết diễn ra khá phổ biến, đặc biệt đối với những tài liệu được lưu giữ trong điều kiện không bảo đảm.

Thư tịch cổ của đồng bào Chăm đang được lưu trữ tại Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm (Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa). (Ảnh: Công Thử/TTXVN)

Thạc sỹ Bá Minh Truyền (Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa) cho biết trong cộng đồng người Chăm, phương pháp bảo quản thư tịch chủ yếu vẫn dựa trên kinh nghiệm dân gian.

Kinh sách thường được đặt trong giỏ tre đan gọi là Ciét tapuk hoặc trong túi vải, sau đó treo ở nơi cao ráo nhằm hạn chế sự xâm nhập của côn trùng. Định kỳ, các chức sắc mang kinh sách ra phơi nắng để chống ẩm mốc. Đối với những trang lá buông bị bám bụi hoặc mờ chữ, người giữ sách thường dùng rượu để lau chùi hoặc dùng bút mực tô lại các nét chữ.

Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ mang tính tạm thời và đôi khi còn làm thay đổi hình dạng nguyên gốc của văn bản.

Một thực tế đáng lo ngại là nhiều gia đình đang lưu giữ thư tịch cổ nhưng không còn người có khả năng đọc hiểu nội dung hoặc kế thừa việc bảo quản. Do quan niệm tôn giáo và tín ngưỡng, họ không dám hủy bỏ nhưng cũng không muốn trao cho người ngoài.

Khi sách bị hư hỏng hoặc không còn người tiếp nhận, một số trường hợp đã đem thả trôi sông theo tập tục truyền thống. Điều này dẫn đến nguy cơ thất tán nhiều tư liệu quý hiếm mà chưa được thống kê, nghiên cứu đầy đủ.

Thạc sỹ Bá Minh Truyền chia sẻ những năm gần đây, các cơ quan văn hóa và bảo tàng đã có nhiều nỗ lực nhằm bảo tồn nguồn di sản này. Tại Khánh Hòa và Lâm Đồng, các bảo tàng đã tiến hành sưu tầm, kiểm kê và lưu giữ nhiều bộ thư tịch quý.

Hiện nay, Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa đang lưu trữ 19 bộ thư tịch lá buông; Trung tâm Trưng bày Văn hóa Chăm và Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng lưu giữ 9 bộ.

Ngoài ra, một số nhà sưu tầm cũng đang sở hữu nhiều thư tịch cổ rất có giá trị. Dẫu vậy, công tác bảo tồn thư tịch thời gian qua vẫn chưa được tốt. Phần lớn các đơn vị chưa được trang bị đầy đủ hệ thống kho bảo quản đạt chuẩn, thiếu thiết bị kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và môi trường lưu trữ.

Nguồn kinh phí dành cho bảo tồn còn hạn chế, trong khi việc phục chế và số hóa thư tịch đòi hỏi chi phí lớn. Hơn nữa đội ngũ chuyên gia có khả năng đọc, phiên âm và dịch thuật thư tịch hiện nay rất ít.

Đây là trở ngại lớn khiến nhiều bộ thư tịch dù đã được bảo quản nhưng vẫn chưa thể khai thác hết giá trị nội dung.

Phát huy hiệu quả nguồn di sản

Ông Đinh Hy, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm nêu rõ để bảo tồn và phát huy hiệu quả nguồn di sản thư tịch cổ của người Chăm, công tác điều tra, khảo sát và thống kê toàn diện số lượng thư tịch Chăm đang lưu giữ trong cộng đồng cần được gấp rút triển khai; đồng thời cần số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu… để có đánh giá chính xác hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo tồn phù hợp.

Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ số cũng là hướng đi cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng thư viện điện tử và cơ sở dữ liệu trực tuyến về thư tịch Chăm sẽ giúp bảo đảm an toàn cho nguồn tư liệu gốc; đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận cho các nhà nghiên cứu và công chúng.

Thư tịch cổ của đồng bào Chăm đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: Công Thử/TTXVN)

Thông qua các nền tảng số, những giá trị lịch sử, văn hóa và tri thức được lưu giữ trong thư tịch có thể được giới thiệu rộng rãi trong nước và quốc tế.

Thạc sỹ Bá Minh Truyền cho biết thời gian qua, các đơn vị lưu trữ đã thực hiện nhiều biện pháp bảo tồn như lập hồ sơ hiện vật, vệ sinh, xử lý côn trùng gây hại, phục chế, số hóa và tổ chức trưng bày phục vụ nghiên cứu, học tập.

Một số thư tịch lá buông đã được số hóa và lưu trữ bằng các phần mềm chuyên dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tra cứu và khai thác thông tin. Đây là bước tiến quan trọng trong việc kéo dài tuổi thọ của hiện vật cũng như giảm thiểu nguy cơ hư hỏng do quá trình sử dụng trực tiếp.

Ông Phú Văn Lương (chức sắc Chăm đạo Bàlamôn ở xã Phước Hữu) bày tỏ thư tịch cổ của người Chăm là di sản đặc biệt quý giá, phản ánh chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa của đồng bào. Qua đó cùng góp phần tạo nên sự đa dạng về kho tàng văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

Bảo tồn thư tịch không chỉ là gìn giữ những hiện vật cổ, mà còn là bảo vệ cả một kho tàng văn hóa, những giá trị tinh thần được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Do đó, đồng bào Chăm rất mong muốn sự chung tay của các cơ quan quản lý nhà nước, các giới nghiên cứu văn hóa cùng tìm giải pháp để bảo tồn, gìn giữ và phát huy nguồn di sản quý báu này, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa của các dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình phát triển./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục