Trong bài phát biểu mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu công tác nghiên cứu khoa học cơ bản phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nhận thức, thể chế, cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện và phương thức vận hành để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Để làm rõ hơn nội dung này, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã có cuộc trò chuyện với Tiến sỹ Trần Đoàn Lâm, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Di sản văn hóa Việt Nam.
Xã hội phát triển khi con người tạo ra tri thức
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu rõ: Muốn thực hiện mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta phải chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, văn hóa và con người. Ông có đánh giá thế nào về quan điểm này?
Tiến sỹ Trần Đoàn Lâm: Tôi cho rằng đó là quan điểm hết sức đúng đắn và có ý nghĩa trong bối cảnh phát triển đất nước hiện nay.
Quan sát các nền văn minh đã tồn tại hàng nghìn, hàng vạn năm, chúng ta thấy rằng một xã hội phát triển khi con người liên tục tạo ra tri thức. Có tri thức của cá nhân, của tập thể và của cộng đồng. Tri thức được vận dụng, lưu giữ và trao truyền tạo nên sự tồn tại của xã hội.
Từ thế hệ này sang thế hệ khác, tri thức được tích lũy và thể hiện ở sự phát triển vượt bậc của khoa học-công nghệ như chúng ta đã thấy.
Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói, khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia, tức là tạo ra của cải vật chất, khiến cho cuộc sống của con người tiện nghi, đầy đủ hơn. Thời gian lao động tạo ra của cải được rút ngắn lại.
Song, nhu cầu của con người có hai phần. Đó là vật chất và đời sống tinh thần. Khoa học-công nghệ giúp tạo ra của cải, vật chất, thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, còn văn hóa sẽ giúp con người thoải mái hơn, cảm thấy hạnh phúc hơn. Chúng ta không chỉ cần cơm ăn, áo mặc mà còn cần một đời sống tinh thần phong phú. Quan trọng hơn nữa là văn hóa có tác động bồi đắp tri thức và nhân cách con người, tạo môi trường tốt đẹp để chúng ta có thể sáng tạo ra thêm những tri thức mới.
Khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia
Tôi lấy ví dụ, tri thức dân gian bao gồm những kinh nghiệm sống được đúc kết lại còn tri thức trong khoa học công nghệ thì cần sự tích lũy, học tập, nghiên cứu, thử nghiệm trong thời gian dài, muốn có được điều đó thì lại cần xây dựng môi trường văn hóa.
Sau cùng, tất cả các yếu tố này đều quay trở lại phục vụ con người - chủ thể đặc biệt vừa lưu giữ, trao truyền tri thức, sáng tạo ra khoa học, công nghệ, ứng dụng khoa học công nghệ và trong đời sống, làm cho cuộc sống của mình tốt đẹp hơn và đồng thời con người cũng chính là chủ thể của văn hóa, tạo ra một nội hàm lớn hơn là văn minh xã hội.
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã phát biểu: Một quốc gia có thể nhập khẩu công nghệ, nhưng không thể nhập khẩu mô hình phát triển phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện của chính mình. Theo ông, Việt Nam cần phát triển khoa học xã hội và nhân văn như thế nào?
Tiến sỹ Trần Đoàn Lâm: Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói: Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia, thì khoa học xã hội và nhân văn tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và giữ vững ổn định xã hội.
Khoa học xã hội và nhân văn được hình thành từ một cộng đồng cụ thể, cùng điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị xã hội, kinh tế của cộng đồng đó.
Việc nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chính là tiếp thu những phương pháp luận, dùng phương pháp luận để quay trở lại xử lý những vấn đề thuộc về xã hội rất cụ thể và những cộng đồng người rất cụ thể. Cho nên chúng ta không thể vay mượn hay sao chép được phương pháp luận. Chúng ta có thể học tập, tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia khác nhưng dữ liệu thực tế thì phải là từ xã hội đó và từ cộng đồng, con người cụ thể.
Nghiên cứu phải gắn với phát triển
- Yếu tố nào đóng vai trò quyết định trong nghiên cứu, phát triển khoa học xã hội và nhân văn, thưa ông?
Tiến sỹ Trần Đoàn Lâm: Trong khoa học cơ bản có khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và nhân văn. Nếu khoa học tự nhiên đòi hỏi sự cân đo đong đếm, thử nghiệm chính xác và kết quả dễ nhìn thấy thì đối với khoa học xã hội và nhân văn, nhiều khi chúng ta không nhìn thấy ngay kết quả. Dẫu vậy, việc nghiên cứu cần phải gắn với phát triển (research and development – R&D) như cách mà thế giới đang làm.
Những công trình nghiên cứu khoa học xã hội cần có tính ứng dụng cao hơn, cần đưa vào thực hiện trong đời sống, chứ không phải là cứ nghiên cứu, nghiệm thu, in thành sách rồi cất đi.
Như tôi đã nói, nghiên cứu khoa học xã hội có thể không cho kết quả rõ ràng như khoa học tự nhiên nhưng ít ra cần phải có tính dự báo và định hướng cho tương lai.
Về mặt nghiên cứu, theo tôi cần phải đổi mới tư duy. Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ, những tiến bộ về kỹ thuật số giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu khoa học xã hội, nhưng khoa học xã hội luôn có tính tiếp nối, giống như những lớp trầm tích mà thế hệ này có thể chỉ phát hiện ra một chút, thế hệ sau càng đào sâu sẽ càng tìm thấy sự phong phú, dồi dào. Nghiên cứu khoa học xã hội không thể dựa trên con số không.
- Thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh chiến lược mới, trong đó tri thức, công nghệ, dữ liệu và nhân tài trở thành nền tảng quyết định sức mạnh quốc gia. Ông có quan điểm thế nào trong việc phát triển nguồn nhân lực?
Tiến sỹ Trần Đoàn Lâm: Cùng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), có quan điểm cho rằng máy móc sẽ dần dần thay thế con người. Tôi nghĩ AI sẽ chỉ làm thay con người ở một số công đoạn, thao tác. Con người vẫn là chủ thể, giữ vị trí trung tâm của phát triển.
Robot, máy móc hay AI đều là sản phẩm do con người tạo ra, chúng không thể thay thế sự sáng tạo, tư duy và cảm xúc của con người.
Những công trình nghiên cứu khoa học xã hội cần có tính ứng dụng cao hơn, cần đưa vào thực hiện trong đời sống, chứ không phải là cứ nghiên cứu, nghiệm thu, in thành sách rồi cất đi.
Trong công tác phát triển hệ giá trị con người để tạo ra sức mạnh nội sinh, tôi cho rằng có thể tranh thủ nguồn lực trong nước, trí thức kiều bào và cả đội ngũ chuyên gia người nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm của họ. Đôi khi, chúng ta xử lý các vấn đề theo quán tính, các chuyên gia quốc tế với góc quan sát từ bên ngoài có thể có những cách tiếp cận khác.
- Chúng ta đã có các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đã có những nghị quyết về phát triển văn hóa của Bộ Chính trị, Quốc hội…, nghĩa là cơ chế và nguồn lực đã sẵn sàng. Theo ông, còn thiếu điều gì để có thể phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?
Tiến sỹ Trần Đoàn Lâm: Nội hàm “nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc” bao gồm hai vế, buộc chúng ta luôn phải đi bằng hai chân. Thứ nhất là phải khai thác được di sản và những giá trị văn hóa quý báu của tổ tiên, của đất nước nghìn năm văn hiến. Thứ hai là phải kết hợp được với sức mạnh của thời đại, những tiến bộ về mặt khoa học công nghệ.
Tôi lấy ví dụ là ứng dụng công nghệ để số hóa di sản thư tịch, tư liệu không chỉ hỗ trợ công tác nghiên cứu mà còn có thể ứng dụng di sản trong phát triển công nghiệp văn hóa.
Trong thời đại mới, việc phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là kim chỉ nam của những người làm văn hóa. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi,” văn hóa dân tộc như một ngọn đuốc, không chỉ chiếu sáng ở một địa điểm mà khi chúng ta cầm ngọn đuốc đó và tiến về phía trước thì ngọn đuốc đó còn có thể tạo ra một vệt sáng dài trên con đường mà chúng ta đi.
- Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông./.
"Thông điệp của Tổng Bí thư về khoa học cơ bản có ý nghĩa chiến lược"
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, đầu tư cho khoa học cơ bản không chỉ là đầu tư cho tri thức mà còn là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia.