Luật Dân số có hiệu lực từ 1/7/2026 đánh dấu bước chuyển trong chính sách dân số của Việt Nam khi mở rộng nhiều chính sách hỗ trợ dành cho từng nhóm dân số, từ gia đình trẻ, phụ nữ mang thai, trẻ em đến người cao tuổi.
Những quy định mới không chỉ hướng tới duy trì mức sinh hợp lý, còn tạo thêm điều kiện để người dân yên tâm sinh con, nuôi dạy con và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Nhiều chính sách gần hơn với cuộc sống người lao động
Là lực lượng lao động trẻ, đang trong độ tuổi lập gia đình và sinh con, công nhân tại các khu công nghiệp là một trong những nhóm chịu tác động trực tiếp từ những chính sách mới của Luật Dân số.
Sau khi luật có hiệu lực từ ngày 1/7, nhiều người lao động đã tìm hiểu các quy định mới, đặc biệt là những chính sách gắn với thai sản, chăm sóc con nhỏ và an sinh gia đình.
Chị Trần Thị Lan, công nhân Khu công nghiệp Sài Đồng B (Hà Nội), chia sẻ là công nhân, lại đang nuôi con nhỏ nên chị cũng quan tâm đến những chính sách liên quan đến người lao động. Việc nghỉ thai sản 7 tháng là quy định rất thiết thực. Có thêm một tháng ở nhà nghe thì không nhiều, nhưng với người mẹ mới sinh lại rất quý, có thêm thời gian chăm con, sức khỏe cũng hồi phục tốt hơn trước khi quay lại làm việc.
Không chỉ lao động nữ, nhiều lao động nam cũng bày tỏ sự quan tâm tới quy định được nghỉ khi vợ sinh con, điều được kỳ vọng giúp các gia đình có thêm thời gian đồng hành trong giai đoạn đầu chăm sóc trẻ sơ sinh.
Anh Nguyễn Văn Hưng, công nhân Khu công nghiệp Đài Tư (Hà Nội), cho biết Điều anh thấy thiết thực nhất là quy định người chồng cũng được nghỉ khi vợ sinh con. Những ngày đầu sau sinh, người mẹ rất cần có chồng ở bên để cùng chăm con, đưa đón đi khám hay lo những việc trong gia đình. Có thêm vài ngày ở nhà lúc đó thực sự rất có ý nghĩa.
Vợ chồng anh Hưng cũng như nhiều gia đình trẻ khác đều mong có cuộc sống ổn định rồi mới tính chuyện sinh con. Việc có thêm những chính sách như hỗ trợ nhà ở xã hội hay hỗ trợ khi sinh con khiến vợ chồng anh thấy yên tâm hơn khi tính chuyện sinh con.
Không chỉ người lao động, tổ chức công đoàn cũng ghi nhận sự quan tâm của đoàn viên đối với những sách mới, phần lớn những câu hỏi đoàn viên đặt ra đều liên quan đến các quyền lợi gắn với đời sống hằng ngày của người lao động.
Ông Lưu Hồng Vân, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần Hanel Xốp nhựa (Long Biên, Hà Nội), thông tin qua trao đổi với đoàn viên, nhiều anh chị em rất quan tâm đến những điểm mới của Luật Dân số vì đây đều là chính sách liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ. Nhiều đoàn viên cũng tìm hiểu về các chính sách hỗ trợ khi sinh con thứ hai trước 35 tuổi hay cơ hội tiếp cận nhà ở xã hội. Với người lao động, đó đều là vấn đề thiết thực. Ai cũng mong có việc làm ổn định, có nơi ở, có điều kiện chăm lo cho con cái tốt hơn. Công ty sẽ tiếp tục tuyên truyền để đoàn viên hiểu rõ những quyền lợi, đồng thời lắng nghe vướng mắc trong quá trình thực hiện để kịp thời phản ánh, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.
Những chia sẻ từ người lao động cho thấy, các chính sách mới của Luật Dân số được quan tâm không chỉ bởi mở rộng thêm quyền lợi, còn vì xuất phát từ những nhu cầu rất cụ thể trong cuộc sống.
Từ việc có thêm thời gian chăm sóc con sau sinh, sự sẻ chia trách nhiệm của cả cha và mẹ đến các chính sách hỗ trợ về an sinh, điểm chung là hướng tới tạo thêm điều kiện để các gia đình trẻ yên tâm sinh con, nuôi dạy con và ổn định cuộc sống.
Từ một chính sách chung đến những giải pháp cho từng nhóm dân số
Việt Nam đang bước vào giai đoạn có nhiều biến động về dân số. Mức sinh trung bình của cả nước hiện chỉ còn khoảng 1,93 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1 con/phụ nữ; nhiều tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch mức sinh giữa các vùng, mất cân bằng giới tính khi sinh và yêu cầu nâng cao chất lượng dân số đặt ra đòi hỏi phải có những chính sách phù hợp hơn với thực tiễn.
Trong bối cảnh đó, Luật Dân số được xây dựng theo hướng chuyển từ tư duy kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm các chính sách hỗ trợ, còn ở cách thiết kế chính sách.
Thay vì áp dụng một giải pháp chung cho toàn bộ dân số, Luật đã mở rộng các chính sách theo từng nhóm đối tượng, phù hợp với nhu cầu ở từng giai đoạn của cuộc sống.
Nhóm chính sách đầu tiên được quan tâm nhiều nhất là các gia đình trẻ, đặc biệt là những cặp vợ chồng đang trong độ tuổi sinh con. Những quy định như kéo dài thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ sinh con thứ hai, bổ sung chế độ nghỉ cho người chồng khi vợ sinh con, hỗ trợ phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi tại các địa phương có mức sinh thấp hay ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội đều hướng tới mục tiêu tạo thêm điều kiện để người dân yên tâm lập gia đình, sinh con và chăm sóc con trong những năm đầu đời.
Các nội dung này đã được Chính phủ cụ thể hóa tại Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Dân số, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Nghị định số 168/2026/NĐ-CP không chỉ quy định chi tiết việc triển khai Luật Dân số, còn cụ thể hóa các nhóm chính sách đối với từng đối tượng thụ hưởng.
Việc ban hành nghị định cùng thời điểm Luật Dân số có hiệu lực tạo cơ sở pháp lý để các chính sách mới được triển khai thống nhất trên phạm vi cả nước, góp phần đưa những quy định của Luật sớm đi vào cuộc sống.
Các chuyên gia đánh giá, chính sách không chỉ nhằm khuyến khích sinh con, còn tập trung tháo gỡ băn khoăn của nhiều gia đình trẻ trong quá trình xây dựng cuộc sống. Khi thời gian chăm sóc con, điều kiện an sinh và cơ hội ổn định cuộc sống được quan tâm nhiều hơn, người dân sẽ có thêm điều kiện để chủ động thực hiện kế hoạch sinh con theo nguyện vọng.
Bên cạnh các gia đình trẻ, quy định cũng mở rộng chính sách đối với nhiều nhóm dân số khác.
Đối với phụ nữ mang thai và trẻ em, luật chú trọng các chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản, sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh nhằm phát hiện sớm nguy cơ bệnh, tật, góp phần nâng cao chất lượng dân số ngay từ giai đoạn đầu đời.
Đối với người cao tuổi, luật quy định các chính sách chăm sóc sức khỏe, phát triển mô hình chăm sóc tại cộng đồng, khuyến khích xã hội tham gia chăm sóc người cao tuổi, đáp ứng yêu cầu thích ứng với quá trình già hóa dân số.
Việc thiết kế chính sách theo từng nhóm đối tượng cho thấy cách tiếp cận mới của công tác dân số trong giai đoạn hiện nay. Mỗi nhóm dân cư có những đặc điểm và nhu cầu khác nhau nên cần những giải pháp phù hợp, thay vì áp dụng một chính sách chung. Đây cũng là điểm khác biệt của Luật Dân số so với các quy định trước đây, khi trọng tâm chủ yếu là điều chỉnh mức sinh.
Có thể thấy Luật Dân số không chỉ bổ sung thêm các chính sách hỗ trợ, còn đánh dấu bước chuyển trong tư duy hoạch định chính sách dân số của Việt Nam. Việc thiết kế chính sách theo từng nhóm đối tượng, phù hợp với nhu cầu thực tế ở từng giai đoạn của cuộc sống, góp phần tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển dân số bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống của người dân./.