Ngày 8/8/2026 Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Kỳ họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tổng kết thực tiễn, nghiên cứu sửa đổi Điều lệ Đảng theo hướng khoa học, chặt chẽ, ngắn gọn, ổn định lâu dài, đồng bộ với sửa đổi Cương lĩnh và Hiến pháp.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Cường, Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN về những nội dung liên quan đến vấn đề này.
- Thưa Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Cường, từ góc độ khoa học xây dựng Đảng, vì sao Điều lệ Đảng cần tiếp tục được tổng kết thực tiễn, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung trong giai đoạn hiện nay? Những biến đổi nào của thực tiễn đang đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống, bài bản hơn?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Cường: Phải thừa nhận một thực tế là có những vấn đề lý luận, những quy định đã được đúc kết trong Điều lệ Đảng nhưng thực tiễn hiện nay đã có những bước phát triển mới. Vì vậy, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng là yêu cầu cần thiết. Trước hết, chúng ta đang tiến hành một cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy và các đơn vị hành chính. Quá trình này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu những quy định trong Điều lệ Đảng để phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Điều lệ Đảng quy định tổ chức đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước. Trước đây, theo mô hình chính quyền địa phương ba cấp, hệ thống tổ chức đảng cũng được xây dựng tương ứng. Hiện nay, khi tổ chức chính quyền địa phương chuyển từ ba cấp sang hai cấp thì mô hình tổ chức đảng theo đơn vị hành chính cũng có những thay đổi. Trong khi đó, các quy định thi hành Điều lệ Đảng không thể vượt ra ngoài khuôn khổ của Điều lệ. Do đó, những thay đổi căn bản về mô hình chính quyền địa phương đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.
Có thể thấy rõ điều này qua những quy định mới về tổ chức đảng ở cơ sở, trong đó đối với một số mô hình tổ chức đảng vẫn phải sử dụng khái niệm “thí điểm”, cũng như yêu cầu tổ chức đồng bộ các loại hình tổ chức đảng. Đây là những vấn đề cho thấy thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra yêu cầu mới.
Yếu tố thứ hai là yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị. Nghị quyết Trung ương 6 khóa XIII đã đặt vấn đề tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Quá trình tổng kết thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị sẽ tiếp tục làm rõ nhiều vấn đề mới.
Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là một trong những nội dung được thể hiện ở tầm nguyên tắc trong Điều lệ Đảng. Khi thực tiễn phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị có những thay đổi thì những vấn đề liên quan trong Điều lệ cũng cần được nghiên cứu để có sự điều chỉnh phù hợp.
Yếu tố thứ ba là sự phát triển rất nhanh của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và không gian mạng. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức, quản lý, trao đổi thông tin cũng như nhiều mặt của đời sống xã hội. Những thay đổi đó tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên. Nếu các quy định trong Điều lệ không được nghiên cứu, bổ sung kịp thời thì có thể xuất hiện những điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện.
- Yêu cầu đặt ra đối với việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng là phải bảo đảm khoa học, chặt chẽ, ngắn gọn, ổn định lâu dài và đồng bộ với Cương lĩnh, Hiến pháp. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ, những yêu cầu này cần được cụ thể hóa như thế nào về phương pháp nghiên cứu, tiêu chí lựa chọn nội dung sửa đổi cũng như việc phân định giữa những vấn đề mang tính nguyên tắc lâu dài với những nội dung có thể điều chỉnh bằng quy định, hướng dẫn?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Cường: Khi đặt vấn đề sửa đổi Điều lệ Đảng, trước hết phải đặc biệt chú trọng phương pháp nghiên cứu lý luận. Từ Đại hội XII, theo tôi, đã có một bước chuyển quan trọng trong tư duy về công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Trước đây chúng ta thường nói “tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận” nhưng bước phát triển mới trong nhận thức là phải tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, bởi thực tiễn là thước đo của chân lý.
Thực tiễn hiện nay vận động rất nhanh. Vì vậy, các quy định cũng phải được nghiên cứu để có khả năng thích ứng với sự vận động đó. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, chúng ta mới có thể phát triển lý luận và từ những vấn đề lý luận đã đủ độ chín mới nghiên cứu thể chế hóa trong Điều lệ. Do đó, việc sửa đổi Điều lệ phải xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của thực tiễn chứ không phải từ mong muốn chủ quan rằng Điều lệ đã qua một số nhiệm kỳ chưa sửa đổi nên đến nay cần phải “làm mới”. Điều quan trọng nhất là phải trả lời rõ hai câu hỏi: Vì sao phải sửa và sửa những gì?
Đây là vấn đề phương pháp luận rất quan trọng. Nếu ngay từ đầu đã đi vào sửa từng câu chữ, từng đoạn hay cách diễn đạt thì mới chỉ xử lý ở phương diện kỹ thuật. Trước hết cần xác định rõ những vấn đề cần sửa về kết cấu, nội dung, quan điểm chỉ đạo, những vấn đề có tính nguyên tắc. Sau khi xác định được những vấn đề lớn đó mới xem xét các nội dung mang tính kỹ thuật như hành văn, diễn đạt. Một yêu cầu khác là không nên đặt ra trước vấn đề sửa ít hay sửa nhiều. Điều quan trọng là xác định những gì thực sự cần sửa. Theo tôi, có thể tiếp cận theo ba nhóm vấn đề.
Thứ nhất, những nội dung đã được thực tiễn khẳng định là đúng đắn, đang phát huy hiệu quả và bảo đảm tính ổn định thì cần tiếp tục kế thừa, không nhất thiết sửa đổi.
Thứ hai, có những nội dung về cơ bản vẫn đúng, vẫn có giá trị nhưng thực tiễn đã xuất hiện những vấn đề mới, đòi hỏi phải bổ sung, phát triển để phù hợp với yêu cầu mới. Chẳng hạn, thực tiễn có thể đặt ra những vấn đề liên quan đến mô hình tổ chức, chức danh lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Khi đó cần nghiên cứu một cách khoa học xem vấn đề nào cần được thể hiện trong Điều lệ, thể hiện ở mức độ nào và bằng hình thức nào.
Thứ ba, thực tiễn luôn vận động và phát triển nên có những quy định trước đây phù hợp nhưng nay không còn phù hợp thì cần nghiên cứu lược bỏ.
Ngược lại, những vấn đề mới đã được thực tiễn kiểm nghiệm và lý luận đã đủ độ chín thì cần xem xét sửa đổi, bổ sung vào Điều lệ. Đó là cách tiếp cận để Điều lệ vừa bảo đảm tính ổn định lâu dài, vừa có khả năng đáp ứng sự phát triển của thực tiễn.
Một yêu cầu rất quan trọng khác, vừa mang tính quan điểm chỉ đạo, vừa liên quan trực tiếp đến kỹ thuật xây dựng Điều lệ, là phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và liên thông. Hệ thống chính trị Việt Nam vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Vì vậy, khi nghiên cứu sửa đổi Điều lệ Đảng phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với hệ thống pháp luật của Nhà nước, cao nhất là Hiến pháp, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với Cương lĩnh.
Việc sửa đổi Điều lệ phải tạo được sự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nếu không xử lý tốt mối quan hệ này có thể dẫn đến tình trạng chồng chéo giữa quy định của Đảng với quy định của pháp luật, thậm chí phát sinh những điểm chưa thống nhất. Khi đó quá trình tổ chức thực hiện sẽ gặp khó khăn và các quy định khó đi vào cuộc sống.
Do vậy, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng cần được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn một cách toàn diện, phát triển lý luận một cách khoa học; xác định rõ những vấn đề cần kế thừa, những nội dung cần bổ sung, phát triển và những quy định không còn phù hợp cần điều chỉnh. Đồng thời, phải đặc biệt coi trọng tính thống nhất, đồng bộ giữa Điều lệ Đảng, Cương lĩnh, Hiến pháp và hệ thống pháp luật, qua đó bảo đảm Điều lệ có tính ổn định lâu dài nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn.
- Từ góc độ lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng, quá trình nghiên cứu sửa đổi Điều lệ cần dựa trên những căn cứ khoa học nào để vừa bảo đảm tính kế thừa, ổn định, vừa phản ánh đúng những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn tổ chức bộ máy, phương thức lãnh đạo, công tác cán bộ, đảng viên và sinh hoạt Đảng? Xin ông cho biết, làm thế nào để ý kiến từ cơ sở thực sự trở thành nguồn dữ liệu thực tiễn quan trọng cho quá trình nghiên cứu, tổng kết và hoàn thiện Điều lệ?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Cường: Theo tôi, cần xuất phát từ hai căn cứ cơ bản là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Về cơ sở lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Do đó, khi nghiên cứu sửa đổi Điều lệ phải dựa trên những cơ sở lý luận đó, đồng thời tiếp thu những kết quả tổng kết thực tiễn của quá trình đổi mới.
Đặc biệt, việc tổng kết 40 năm đổi mới cung cấp một nguồn thực tiễn và lý luận rất quan trọng. Qua tổng kết, nhiều vấn đề đã được thực tiễn kiểm nghiệm, nhiều nhận thức mới được hình thành và phát triển. Đây là những cơ sở cần được nghiên cứu kỹ trong quá trình xem xét sửa đổi, bổ sung Điều lệ.
Tôi cho rằng, từ tổng kết thực tiễn, việc sửa đổi Điều lệ còn phải đặc biệt chú trọng tính dự báo. Trong thực tế, có những quy định được ban hành nhưng do tầm nhìn và khả năng dự báo chưa đầy đủ nên sớm phải điều chỉnh. Trong xây dựng pháp luật cũng có trường hợp văn bản vừa được ban hành, chưa kịp đi sâu vào đời sống đã bộc lộ những vấn đề cần sửa đổi.
Điều lệ Đảng là văn bản có tính nền tảng nên yêu cầu về tầm nhìn và tính dự báo càng phải cao. Không thể chỉ giải quyết những vấn đề đã phát sinh mà cần cố gắng nhận diện xu hướng vận động của thực tiễn để các quy định có sức sống lâu dài, hạn chế tình trạng vừa ban hành đã phải tiếp tục điều chỉnh.
Một vấn đề đặc biệt quan trọng là phải hướng mạnh về cơ sở. Khi xây dựng nghị quyết nói chung và sửa đổi Điều lệ nói riêng, theo tôi, phải thấm nhuần quan điểm đưa cuộc sống vào trong Điều lệ. Nghĩa là phải nhận diện được thực tiễn đang vận hành như thế nào, đang đặt ra những yêu cầu gì và chuyển hóa được những đòi hỏi của thực tiễn đó thành những quy định phù hợp.
Lý do phải sửa Điều lệ phải bắt nguồn từ yêu cầu, từ “mệnh lệnh” của cuộc sống chứ không phải từ ý muốn chủ quan của nhà nghiên cứu, người làm công tác lý luận hay người lãnh đạo thực tiễn. Chỉ khi xuất phát từ những vấn đề mà thực tiễn thực sự đặt ra thì việc sửa đổi mới có cơ sở khoa học và có giá trị lâu dài. Cùng với đó, cần mở rộng việc thu hút sự tham gia, đóng góp ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Kinh nghiệm trong những nhiệm kỳ gần đây cho thấy, quá trình xây dựng văn kiện đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nhiều ý kiến xác đáng đã được Đảng tiếp thu, đưa vào văn kiện, nghị quyết và sau đó chuyển hóa thành hành động trong thực tiễn, mang lại hiệu quả thiết thực. Do đó, lắng nghe tiếng nói từ cơ sở, từ cán bộ, đảng viên và người dân sẽ tạo thêm căn cứ thực tiễn để Điều lệ sau khi được nghiên cứu sửa đổi có sức sống lâu dài, đồng thời phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Việc mở rộng lấy ý kiến của nhân dân cũng xuất phát từ vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và mục tiêu chung mà Đảng, Nhà nước và nhân dân cùng hướng tới. Mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc là khát vọng chung của toàn dân tộc.
Chính sự thống nhất về mục tiêu đó tạo thành động lực để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Vì vậy, Điều lệ Đảng phải cô đọng được những vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời phản ánh được yêu cầu của thực tiễn, tiếp thu được những ý kiến xác đáng từ cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Theo tôi, nếu làm được như vậy, Điều lệ sẽ vừa giữ được tính nguyên tắc, tính ổn định cần thiết của một văn bản nền tảng của Đảng, vừa có khả năng thích ứng với sự vận động nhanh chóng của thực tiễn; qua đó trở thành cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới trong giai đoạn phát triển mới.
- Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Cường!
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tổng kết thực tiễn, nghiên cứu sửa đổi Điều lệ Đảng theo hướng khoa học, chặt chẽ, ngắn gọn, ổn định lâu dài, đồng bộ với sửa đổi Cương lĩnh và Hiến pháp.