Phát huy các giá trị của hệ thống di tích Cố đô Huế

Trải qua ba thập niên xây dựng, phát triển, đến nay Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã có bước trưởng thành vượt bậc.
Nhân kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế (6/1982-6/2012), phóng viên TTXVN đã có cuộc traođổi với tiến sỹ Phan Thanh Hải - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế xung quanhvấn đề bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích Cố đô Huế.

- Xin ông cho biết, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế phải đối phó thế nàođể hệ thống di tích Huế thoát khỏi tình trạng cứu nguy khẩn cấp?

Tiến sỹ Phan Thanh Hải: Cần phải nhắc lại là, 30 năm trước,ngày 10/6/1982, Công ty Quản lý Di tích Lịch sử và Văn hóa Huế đượcthành lập. Đó là đơn vị tiền thân của Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế ngày nay. Trảiqua ba thập niên xây dựng, phát triển, đến nay Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã cóbước trưởng thành vượt bậc, trở thành đơn vị bảo tồn di sản hàng đầu củaViệt Nam.

Di sản văn hóa Huế là một phức hệ bao gồmcả quần thể di tích cố đô đồ sộ với thành quách, cung điện, lăng tẩm,đàn miếu, đài tạ, chùa quán, cầu cống, phủ đệ; hệ thống kiến trúc cộngđồng, tôn giáo và kiến trúc dân gian; các giá trị văn hóa phi vật thểphong phú; các giá trị cảnh quan môi trường độc đáo. Tuy nhiên, sau khitriều Nguyễn chấm dứt, hai cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm(1945-1975) đã tàn phá nghiêm trọng các di sản văn hóa. Bên cạnh đó,việc quản lý lỏng lẻo cùng việc tu sửa các di tích một cách tùy tiệntrước đây đã gây ảnh hưởng bất lợi cho các di sản.

Năm 1983, Luận chứng kinh tế-kỹ thuật tổng hợp về bảo tồn disản cố đô Huế đã được bảo vệ thành công ở cấp Nhà nước. Từ đó, nguồnkinh phí đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước dành cho Huế ngày càngtăng, góp phần quan trọng để cải thiện công tác bảo quản, chống xuốngcấp và bước đầu trùng tu các di sản của cố đô. Cho đến năm 1991, hầu hếtcác di tích quan trọng đã được lập hồ sơ khoanh vùng bảo vệ (căn cứtheo Pháp lệnh Bảo vệ di tích năm 1984) và đã được các ban ngành liênquan từ trung ương đến cơ sở công nhận. Trên cơ sở đó, vào năm 1992, mộtbộ hồ sơ khoa học mang tính tổng thể về di tích cố đô Huế đã được thiếtlập và được đệ trình lên Ủy ban di sản thế giới của UNESCO.

Năm 1993, hệ thống di tích Cố đô Huế được vinh danh là di sảnvăn hóa thế giới, điều quan trọng nhất với Huế lúc đó là xây dựng đượcmột chiến lược phù hợp để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóađã được công nhận. Chiến lược đó đã được cụ thể hóa bằng Dự án "Quyhoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, giai đoạn1996-2010" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Mục tiêu cơ bản của dự ánlà bảo tồn di sản văn hoá Cố đô Huế; phát huy mọi giá trị quý giá củadi sản văn hóa Cố đô Huế bao gồm giá trị di sản văn hóa vật chất, giátrị di sản văn hoá tinh thần, giá trị di sản văn hoá môi trường cảnhquan đô thị và thiên nhiên trong việc giáo dục giữ gìn truyền thống, bảnsắc văn hóa dân tộc, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

Công tác bảo tồn, trùng tu di tích đạt được những thành tựuchính: Bảo quản cấp thiết hầu hết các di tích bằng các biện pháp chốngdột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thếcác bộ phận bị lão hóa v.v. nhờ vậy mà trong điều kiện thiên tai khắcnghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổithọ.

Trùng tu, phục hồi một số công trình tiêu biểu như: Ngọ Môn, ĐiệnThái Hòa, Hiển Lâm Các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt ThịĐường, cung Trường Sanh, hệ thống Trường lang (Tử Cấm Thành), Minh Lâu,Điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi Đình (lăng Minh Mạng), Điện Hòa Khiêm,Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện, (lăng Tự Đức), Thiên Định Cung, Bi Đình(lăng Khải Định), Chùa Thiên Mụ, Cung An Định, các cổng Kinh thành ...Củng cố hạ tầng kỹ thuật như hệ thống đường, điện chiếu sáng khu vực ĐạiNội, Quảng trường Ngọ Môn-Kỳ Đài; điện đường đến các lăng Tự Đức,Khải Định, Minh Mạng đã được đầu tư, nâng cấp; hệ thống sân vườn sânvườn các di tích Hưng Miếu, Thế Miếu, cung Diên Thọ, Cung An Định...được đầu tư chỉnh trang theo hướng trả lại không gian vốn có.

Hệ thốngdi sản văn hóa Huế từ đó đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp vàchuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững. Những kết quả quantrọng ấy được thể hiện trên các mặt: bảo tồn, trùng tu di tích; bảo tồnvăn hóa phi vật thể; bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu disản; hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạonguồn nhân lực; phát huy giá trị di sản. Điều quan trọng là, các di tíchđã được tu bổ đều đảm bảo các nguyên tắc khoa học về bảo tồn của quốcgia và thỏa mãn các điều luật của Hiến chương, Công ước quốc tế mà ViệtNam đã tham gia, được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giácao.

- Việc phát huy giá trị hệ thống di tích Cố đô Huế hiện nay ra sao, thưa ông?

Tiến sĩ Phan Thanh Hải: Công tác bảo tồn, trùng tu di tích đãđem lại những hiệu quả tích cực về mặt kinh tế và xã hội, góp phần quantrọng trong việc thu hút du khách đến Huế, tăng các nguồn doanh thu dulịch và dịch vụ, tạo ra sự quan tâm đặc biệt của các tầng lớp xã hội đốivới di sản văn hóa truyền thống… Nhiều công trình khi tu bổ xong đãphát huy tốt hiệu quả kinh tế, xã hội như: Duyệt Thị Đường, Minh KhiêmĐường (nơi biểu diễn múa, hát, tuồng và các nhạc khúc Cung đình phục vụdu khách), Quảng trường Ngọ Môn-Kỳ Đài. Các công trình hạ tầng ĐạiNội, Quảng trường Ngọ Môn-Kỳ Đài, điện chiếu sáng Đại Nội và các lăngđã phục vụ tốt các lễ hội Festival cũng như cầu truyền hình trong cácdịp lễ, Tết.

Các di sản văn hóa phi vật thểcủa Huế như thơ văn Hán Nôm trên di tích, văn bia, thơ Ngự chế đượctrang trí ở các cung điện, các hoa văn họa tiết trang trí mỹ thuật gắnliền với di tích kiến trúc, lễ nhạc cung đình, múa hát cung đình, lễ hộicung đình, tuồng Ngự, ca Huế ...luôn được phát huy.

Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đãnghiên cứu, biên soạn, dịch thuật và xuất bản hơn 20 công trình về Disản văn hóa Huế và công cuộc bảo tồn, trong đó có những công trình đoạtgiải thưởng cao của trung ương và địa phương, như Khoa cử và khoa bảngtriều Nguyễn, Thần kinh nhị thập cảnh - thơ vua Thiệu Trị, Kinh thànhHuế, Huế - Di sản văn hóa thế giới, Âm nhạc cung đình Huế, Tuồng cungđình Huế, Khảo cổ học tại Di tích Cố đô Huế, Di sản văn hóa Huế - Nghiêncứu & bảo tồn, Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (6 tập), Khâm địnhĐại Nam hội điển sự lệ tục biên (10 tập)...

Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế sưu tầm,nghiên cứu ứng dụng và bảo tồn được hàng chục tác phẩm âm nhạc cung đìnhquan trọng như 10 nhạc chương trong lễ Tế Giao, 9 nhạc chương trong TếLiệt miếu, 5 nhạc chương trong lễ Đoan Dương, Vạn Thọ và Tết Nguyên Đán,37 nhạc chương diễn tấu với dàn Tiểu nhạc, 10 nhạc chương diễn tấutrong các đợt vua ngự, 14 bài bản Đại nhạc… Trung tâm còn sưu tầm nghiêncứu và dàn dựng thành công 15 điệu múa Cung đình tiêu biểu như Trìnhtường tập khánh, Tứ linh, Nữ tướng xuất quân, Bát Dật, Long Hổ hội...;nghiên cứu dàn dựng 2 vở tuồng cung đình cổ và 25 trích đoạn tuồng phụcvụ lễ hội và giao lưu văn hóa nghệ thuật…

Trung tâm đã nghiên cứu phục hồi một số lễ hội cung đình quan trọng nhấtcủa triều Nguyễn như lễ Tế Nam giao, lễ tế Xã Tắc, lễ Truyền Lô - Vinhquy bái tổ (lễ vinh danh Tiến Sĩ dưới thời Nguyễn), lễ hội thi Tiến sĩVõ; những lễ hội mới nhưng dựa trên chất liệu truyền thống như Huyềnthoại sông Hương, Hành trình mở cõi, Thiên hạ Thái bình… Đặc biệt làtrong các dịp lễ hội Festival Huế, các loại hình nghệ thuật Cung đình,bao gồm cả lễ hội, âm nhạc, nghệ thuật thư pháp, nghệ thuật ẩm thực, tròchơi cung đình… đã thực sự đóng vai trò trung tâm trong các hoạt độngcủa đơn vị chủ nhà, trở thành đại diện tiêu biểu của văn hóa Huế trongsự đối thoại, giao lưu với bạn bè quốc tế. Chính nhờ những nỗ lực trênmà tháng 11 năm 2003, UNESCO đã chính thức công nhận Nhã nhạc Cung đìnhHuế là Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại(nay là Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện nhân loại).

Từ bấy đến nay, trung tâm lấy việc khai thác và phát huy giátrị văn hóa vật thể và phi vật thể hệ thống di tích Cố đô Huế làm giảipháp tốt nhất để bảo tồn di tích, làm cho di tích sống, hòa vào cuộcsống của xã hội đương đại, có tác dụng giáo dục và nâng cao đời sống vănhóa của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn sinh lợi đểbảo tồn di tích. Đặc biệt là đầu tư tu bổ để phát triển ngành côngnghiệp du lịch và các loại dịch vụ, tạo cơ sở để giải quyết việc làmcho người lao động. Việc khai thác hợp lý làm cho di tích thoát khỏi sựlãng quên mà Luật Di sản Văn hóa đã chỉ rõ là hướng đến xã hội hóa côngtác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích. Phát triển du lịch là xuthế tất yếu của xứ sở giàu di sản văn hóa này. Đây cũng là lĩnh vực thểhiện kết quả trực tiếp của công tác bảo tồn di sản.

Nhờ những thành tựu của công tác bảo tồn mà Di sản văn hóa Huếđã được quảng bá hình ảnh rộng rãi trên toàn thế giới, tạo nên sức hútto lớn của Huế đối với du khách thập phương. Trong lĩnh vực văn hóa đốingoại, các giá trị di sản văn hóa Huế còn được giới thiệu ở các nước nhưLào, Pháp, Bỉ, Áo, Nhật, Hàn Quốc thông qua các đợt trưng bày triển lãmcủa Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế; các giá trị văn hóa phi vật thể đượcgiới thiệu ở các nước như Hàn Quốc, Philippines, Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha,Italy, Nhật Bản, Thụy Sĩ... thông qua các đợt lưu diễn nghệ thuật củaNhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế.

Ngành du lịch dịch vụ của tỉnh Thừa Thiên-Huế trong những năm quađã có những bước phát triển nhanh chóng và thực sự đã trở thành ngànhkinh tế mũi nhọn của địa phương. Riêng tại khu di tích Huế, doanh thutrực tiếp từ năm 1996 đến năm 2011 đã đạt gần 724,5 tỷ đồng. Chính nguồnthu này đã góp phần rất quan trọng trong việc tái đầu tư cho hoạt độngbảo tồn di sản.

Việc khai thác và phát huygiá trị di sản còn tạo điều kiện cho công tác phục hồi các ngành nghềthủ công, các nghi lễ và nghệ thuật truyền thống. Các nghề đúc đồng, sơnthếp, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, làm diều Huế, may áo dài, chằm nónlá, làm kẹo mè xửng, tôm chua, nghệ thuật ẩm thực, ca Huế… đã có sự phụchồi và phát triển mạnh mẽ để đáp ứng các nhu cầu của ngành du lịch.../.

Quốc Việt (TTXVN)

Tin cùng chuyên mục

Du khách check-in trong đêm lung linh sắc màu của "Hóa Châu ngày Tết năm 2026." (Ảnh: Mai Trang/TTXVN)

Phố cổ Bao Vinh "thức giấc" trong sắc Tết

Khi Tết cổ truyền Bính Ngọ đến, không gian phố cổ Bao Vinh, phường Hóa Châu, thành phố Huế khoác lên diện mạo mới, rộn ràng và ấm áp, hòa quyện nét Tết xưa với nhịp sống hiện đại, thu hút đông đảo người dân và du khách trải nghiệm.

Lễ khai chỉ tại Lễ hội chùa Keo mùa Xuân năm Bính Ngọ 2026. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Khai hội chùa Keo mùa Xuân Bính Ngọ 2026

Lễ hội chùa Keo mùa Xuân mang ý nghĩa cầu quốc thái dân an, cầu cho một năm mới bình an, may mắn, thu hút đông đảo du khách về tham quan, chiêm bái và trải nghiệm các giá trị văn hóa, tín ngưỡng,

Quang cảnh chùa Keo ngày hội khai Xuân (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Du Xuân trẩy hội chùa Keo

Lễ hội mùa Xuân tại Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt chùa Keo hàng năm thu hút đông đảo du khách tới du Xuân, lễ Phật, cầu xin tài lộc, chiêm ngưỡng công trình kiến trúc độc đáo gần 400 năm.

Người dân đi lễ Đền Quán Thánh (trấn Bắc) ngày mùng 2 Tết Bính Ngọ. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Đi lễ Thăng Long tứ trấn đầu Xuân Bính Ngọ

Theo truyền thống dân gian, thứ tự đi lễ Thăng Long tứ trấn là đi thuận hướng trời đất theo trình tự: Đông-Tây-Nam-Bắc, tương ứng theo trình tự: đền Bạch Mã-đền Voi Phục-đền Kim Liên-đền Quán Thánh.